Tin đúng, hiểu đúng

Thế giới do ai tạo ra? Câu chuyện vị Phạm thiên tưởng mình là đấng tạo hóa

Đây là câu hỏi mà trẻ con hỏi cha mẹ, học sinh hỏi thầy, và người theo tôn giáo này hỏi người theo tôn giáo kia: ai tạo ra thế giới? Kinh tạng Pāli không né câu hỏi này. Đức Phật kể hẳn một câu chuyện về vị “đấng tạo hóa”, và câu chuyện ấy vừa hóm hỉnh vừa sâu sắc.

Bản video của bài này, giọng đọc Việt Bách.
Tóm lại: Kinh Pāli không dạy có một đấng tạo ra thế giới. Kinh Phạm Võng (DN 1, 2.2–2.5) kể: thế giới co lại rồi nở ra qua những thời gian rất dài; một chúng sinh tái sinh trước tiên vào cung Phạm thiên trống, ở một mình lâu ngày nên mong có bạn; khi chúng sinh khác đến, vị ấy nghĩ “ta tạo ra họ”, và những vị đến sau cũng tin như vậy chỉ vì thấy vị ấy có mặt trước. Kinh Kevaddha (DN 11) kể Đại Phạm thiên không trả lời được một câu hỏi và phải kéo vị tỷ-kheo sang một bên. Luân hồi “không thể biết được khởi điểm” (SN 15.1), và suy đoán về thế giới là một trong bốn điều không nên nghĩ ngợi (AN 4.77). Điều Đức Phật dạy là khổ và con đường hết khổ.

Thế giới co lại và nở ra

Trong Kinh Phạm Võng (Brahmajāla Sutta), khi nói về các tà kiến, Đức Phật kể: “Có một thời, sau một thời gian rất dài, thế giới này co lại” (DN 1, 2.2). Khi ấy phần lớn chúng sinh sinh về cõi Quang Âm (Ābhassara), sống bằng hỷ, tự phát sáng, bay trong không trung, trong một thời gian rất lâu. Rồi “có một thời, sau một thời gian rất dài, thế giới này nở ra”, và một cung điện Phạm thiên trống hiện ra (2.3). Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (DN 27, đoạn 10) cũng mở đầu bằng hình ảnh ấy.

Trong cách kể của kinh, thế giới không có một ngày khai sinh duy nhất. Nó thành rồi hoại, hoại rồi thành, theo những chu kỳ dài đến mức khó hình dung.

Vị Phạm thiên tưởng mình là đấng tạo hóa

Một chúng sinh hết tuổi thọ hay hết phước ở cõi Quang Âm, tái sinh vào cung Phạm thiên trống ấy. Ở một mình lâu ngày, vị ấy thấy buồn và bồn chồn: “Ước gì có chúng sinh khác đến đây” (DN 1, 2.4.2; Pāli: aho vata aññepi sattā itthattaṁ āgaccheyyuṁ). Đúng lúc đó, những chúng sinh khác cũng hết tuổi thọ hay hết phước, tái sinh vào cùng nơi.

Vị đến trước nghĩ: “Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng toàn năng, đấng thấy hết, đấng tạo tác, đấng sáng tạo, cha của muôn loài đã sinh và sẽ sinh. Những chúng sinh này do ta tạo ra. Vì sao? Vì trước đó ta đã ước: mong có chúng sinh khác đến đây; ta vừa ước, họ đã đến” (2.5). Còn những vị đến sau thì nghĩ: “Chúng ta do vị Phạm thiên này tạo ra. Vì sao? Vì chúng ta thấy vị ấy có mặt ở đây trước, còn chúng ta đến sau” (2.5).

Chỉ một sự trùng hợp về thời gian, cộng với lòng mong muốn và sự kiêu mạn, đã đủ sinh ra niềm tin “có đấng tạo hóa”. Đức Phật kể chuyện này trong danh sách sáu mươi hai tà kiến, để chỉ ra niềm tin ấy được hình thành ra sao.

Đại Phạm thiên cũng có điều không biết

Kinh Kevaddha (DN 11) kể một vị tỷ-kheo muốn biết: bốn đại đất, nước, lửa, gió diệt tận ở đâu? Vị ấy dùng thần thông đi hỏi hết cõi trời này đến cõi trời khác, không ai biết, cuối cùng hỏi đến Đại Phạm thiên. Hai lần Đại Phạm thiên chỉ đáp: “Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng toàn năng, đấng sáng tạo…”. Đến lần hỏi thứ ba, vị ấy nắm tay tỷ-kheo kéo sang một bên, nói nhỏ: chư thiên tùy tùng tin rằng không có gì Phạm thiên không biết, nên ta không nói trước mặt họ; thật ra ta không biết bốn đại diệt tận ở đâu, hãy về hỏi Đức Thế Tôn (DN 11, 81–83). Câu trả lời cuối cùng đến từ Đức Phật, không đến từ vị “đấng tạo hóa”.

Vậy luân hồi bắt đầu từ đâu?

Đức Phật nói thẳng: “Này các tỷ-kheo, luân hồi này không thể biết được khởi điểm. Không tìm thấy điểm đầu của chúng sinh bị vô minh che lấp, bị tham ái trói buộc, lưu chuyển luân hồi” (SN 15.1:1.7–8; Pāli của câu đầu: anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro). Ngài ví: nếu một người chặt hết cỏ cây trên cõi Diêm-phù-đề thành từng khúc bốn ngón tay, đếm “đây là mẹ ta, đây là mẹ của mẹ ta”, thì cỏ cây sẽ hết trước khi đếm hết mẹ của mẹ người ấy.

Và Ngài dặn đừng sa vào suy đoán. Kinh Bốn Điều Không Thể Nghĩ Bàn (AN 4.77) xếp “suy đoán về thế giới” (lokacintā) vào bốn điều không nên nghĩ ngợi, vì ai cố nghĩ sẽ chuốc lấy điên loạn và mệt mỏi.

Không có đấng tạo hóa, thì cái gì vận hành?

Câu trả lời của Đức Phật là duyên khởi: cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh (SN 12.21:1.8; Pāli: imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati). Khổ của chúng ta không do ai ban cho, cũng không do ngẫu nhiên; nó có nguyên nhân, và vì có nguyên nhân nên có thể chấm dứt. Trong Kinh Rừng Simsapā (SN 56.31), Đức Phật cầm một nắm lá và nói: điều Ta biết nhiều như lá trong rừng, điều Ta dạy chỉ như nắm lá trong tay, vì chỉ những điều ấy mới đưa đến chấm dứt khổ.

Thử hình dung

Một em học sinh hỏi mẹ: “Mẹ ơi, ai tạo ra trái đất?” Người mẹ theo đạo Phật có thể kể chuyện vị Phạm thiên ở một mình rồi tưởng mình tạo ra bạn bè, và cười với con: “Thấy mình đến trước chưa chắc mình là người tạo ra đâu con.” Rồi kể tiếp về nắm lá trong tay: có những câu hỏi rất hay, nhưng câu hỏi quan trọng nhất là hôm nay mình sống thế nào cho bớt khổ.

Hỏi nhanh

Theo Phật giáo, thế giới do ai tạo ra?

Kinh tạng Pāli không dạy có một đấng tạo ra thế giới. Thế giới thành và hoại theo những chu kỳ rất dài (DN 1, 2.2–2.3; DN 27). Niềm tin có đấng tạo hóa được Đức Phật giải thích là một tà kiến, sinh ra khi một vị Phạm thiên tái sinh trước tưởng mình tạo ra các chúng sinh đến sau (DN 1, 2.5).

Phật giáo có tin vào Phạm thiên, Thượng đế không?

Kinh Pāli có nói đến các vị Phạm thiên như những chúng sinh sống ở cõi cao, tuổi thọ dài, nhưng vẫn trong luân hồi, vẫn có điều không biết (DN 11) và không phải đấng sáng tạo. Phật giáo không thờ một đấng tạo hóa.

Luân hồi bắt đầu từ khi nào?

Đức Phật dạy luân hồi không thể biết được khởi điểm (anamatagga, SN 15.1): không tìm thấy điểm đầu của chúng sinh bị vô minh che lấp, tham ái trói buộc.

Có nên suy nghĩ thế giới từ đâu ra không?

Kinh AN 4.77 xếp suy đoán về thế giới vào bốn điều không thể nghĩ bàn, cố nghĩ sẽ chuốc lấy mệt mỏi. Đức Phật hướng người học vào khổ và con đường chấm dứt khổ, như nắm lá trong tay (SN 56.31).

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Trường Bộ 1, Kinh Phạm Võng (Brahmajāla Sutta), DN 1 trên SuttaCentral.
  2. Trường Bộ 11, Kinh Kevaddha, DN 11 trên SuttaCentral.
  3. Trường Bộ 27, Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (Aggañña Sutta), DN 27 trên SuttaCentral.
  4. Tương Ưng Bộ 15.1, Kinh Cỏ và Củi, SN 15.1 trên SuttaCentral.
  5. Tăng Chi Bộ 4.77, Kinh Không Thể Nghĩ Bàn, AN 4.77 trên SuttaCentral.
  6. Tương Ưng Bộ 12.21, Kinh Mười Lực (Dasabala Sutta), SN 12.21 trên SuttaCentral.
  7. Tương Ưng Bộ 56.31, Kinh Rừng Simsapā (Siṁsapā Sutta), SN 56.31 trên SuttaCentral.
  8. Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Đọc nguyên văn bài kinh