Kinh Āḷavaka
Āḷavaka Sutta
Còn gọi là: Kinh Alavaka, Kinh Tập 1.10
Một dạ-xoa hung dữ bắt Đức Phật đi ra, đi vào, rồi dọa ném Ngài sang bờ sông Hằng. Sự nhẫn nại của Đức Phật, rồi những bài kệ về lòng tin, sự chân thật và tình bạn, đã cảm hóa được nó.
Trước khi đọc kinh
Kinh Āḷavaka (Āḷavaka Sutta) là bài kinh thứ mười trong phẩm Rắn (Uragavagga) của Kinh Tập, mở đầu bằng một đoạn văn xuôi. Đức Phật đang ở gần A-la-bà (Āḷavī), tại chỗ ở của dạ-xoa Āḷavaka (đoạn 1.2). Dạ-xoa ra lệnh: “Ra ngoài đi, Sa-môn!”, Đức Phật nói “Được, này hiền giả” rồi đi ra; “Vào trong đi!”, Ngài lại đi vào. Ba lần như vậy; đến lần thứ tư, Ngài không ra nữa: “Ông muốn làm gì thì cứ làm” (đoạn 1.4–3.4). Āḷavaka dọa sẽ làm tâm Ngài điên loạn, làm vỡ tim Ngài, hoặc nắm chân ném sang bờ bên kia sông Hằng, nếu Ngài không trả lời được câu hỏi (đoạn 4.2). Đức Phật đáp rằng trong cả thế gian không ai làm được điều ấy, nhưng ông cứ hỏi (đoạn 5.1–5.2). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), vua xứ A-la-bà đi săn, bị dạ-xoa bắt, phải hứa ngày ngày dâng người cho nó ăn; trước là tử tù, sau là trẻ nhỏ, đến năm thứ mười hai thì trong thành chỉ còn lại chính hoàng tử. Ngay hôm trước ngày hoàng tử bị đem dâng, Đức Phật từ Kỳ Viên (Jetavana) ở Xá-vệ (Sāvatthī) một mình đi bộ ba mươi do-tuần, đến chỗ dạ-xoa lúc mặt trời đã lặn. Chú giải giải thích vì sao Ngài vâng lời: người đang cứng đầu mà gặp cứng thì càng cứng thêm, như con chó dữ bị chọc càng dữ; Ngài chiều theo như người mẹ dỗ đứa con đang khóc, để tâm nó dịu lại mà nghe Pháp.
Câu hỏi đầu tiên: tài sản nào quý nhất của con người? Đức Phật đáp: lòng tin là tài sản quý nhất; Pháp khéo thực hành đem lại an vui; sự chân thật ngọt hơn mọi vị; sống bằng trí tuệ là đời sống cao quý nhất (kệ 7.1–7.4). Theo chú giải, lòng tin được gọi là tài sản vì cũng như vàng bạc, nó đem lại an vui và xua đi sự nghèo khó, ở đây là nghèo về đức hạnh; và là quý nhất vì nó đi theo mình, không ai chia phần được, lại là gốc của cả của cải thế gian, vì người có lòng tin mới làm phước. Rồi: nhờ lòng tin vượt dòng nước lũ, nhờ không phóng dật vượt biển cả, nhờ tinh tấn vượt khổ đau, nhờ trí tuệ được thanh tịnh (kệ 9.1–9.4); chú giải nói bốn câu này ứng với bốn bậc Thánh, và cuối bài kệ ấy Āḷavaka chứng quả Nhập lưu. Những câu sau rất gần đời thường: biết lắng nghe thì có trí tuệ; làm việc thích đáng, chịu khó thì có của; chân thật thì có tiếng tốt; biết cho thì giữ được bạn (kệ 11–12). Theo chú giải, sáng ra người của vua mang hoàng tử đến; dạ-xoa đem đứa bé dâng Đức Phật, Ngài trao lại cho người của vua. Vì được chuyền qua nhiều tay (hattha: bàn tay), cậu bé được gọi là Hatthaka xứ A-la-bà, về sau chứng quả Bất lai và được Đức Phật khen là bậc nhất trong việc nhiếp phục hội chúng bằng bốn nhiếp pháp (AN 4.32). Ông cũng là người được Đức Phật hỏi chuyện trong Kinh Hatthaka (AN 3.35).
Nhiều người trong chúng ta lo tích lũy nhà cửa, tiền bạc, và điều đó không sai. Bài kinh chỉ nhắc rằng có một thứ của cải nằm dưới tất cả những thứ kia. Lòng tin ở đây không phải tin mù quáng, mà là niềm tin vững vào điều thiện, vào Tam Bảo, đến từ chỗ đã nghe kỹ và xét kỹ (kệ 11.1–11.4). Bốn điều cho người tại gia ở kệ 13, chân thật, sống đúng pháp, kiên trì, xả thí, cũng là bốn điều giúp một gia đình đứng vững qua sóng gió. Và cách Đức Phật đối xử với Āḷavaka là một bài học riêng: khi gặp một người đang nóng giận, như đứa con tuổi mới lớn hay một người khó tính trong nhà, đôi khi mềm mỏng vài lần lại mở được lòng người hơn là đối đầu. Tuần này, bạn thử chọn một trong bốn điều ở kệ 13 để giữ cho thật trọn.
Ý chính
- Đức Phật nhẫn nại ra vào theo lời dạ-xoa ba lần, đến lần thứ tư mới không theo nữa (1.4–3.4).
- Lòng tin là tài sản quý nhất; chân thật ngọt hơn mọi vị; sống bằng trí tuệ là đời sống cao quý nhất (7.1–7.4).
- Nhờ lòng tin, không phóng dật, tinh tấn và trí tuệ mà vượt nước lũ, vượt biển cả, vượt khổ đau, được thanh tịnh (9.1–9.4).
- Tin bậc A-la-hán và Pháp, biết lắng nghe, không phóng dật thì có được trí tuệ (11.1–11.4).
- Làm việc thích đáng, siêng năng thì có của; chân thật thì có tiếng tốt; biết cho thì giữ được bạn (12.1–12.4).
- Người tại gia có lòng tin, đủ chân thật, sống đúng pháp, kiên trì, xả thí thì ra đi không sầu muộn (13.1–13.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- yakkha
- dạ-xoa, loài phi nhân có thần lực
- saddhā
- lòng tin, niềm tin vững vào điều thiện và Tam Bảo
- vitta
- tài sản, của quý làm cho lòng vui
- appamāda
- không phóng dật: không buông lung, luôn tỉnh táo
- vīriya
- tinh tấn, sự nỗ lực bền bỉ
- sussūsā
- lòng muốn lắng nghe
- dhiti
- sự kiên trì, bền chí
- cāga
- xả thí, lòng rộng rãi biết cho
Kinh Āḷavaka
1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Alavi, tại trú xứ của Dạ-xoa Alavaka. Rồi Dạ-xoa Alavaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói với Thế Tôn:
- Này Sa-môn, hãy đi ra.
- Lành thay, Hiền giả.
Thế Tôn đi ra.
- Này Sa-môn, hãy đi vào.
- Lành thay, Hiền giả.
Thế Tôn đi vào. Lần thứ hai, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:
- Này Sa-môn, hãy đi ra.
- Lành thay, Hiền giả.Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati āḷavakassa yakkhassa bhavane. Atha kho āḷavako yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “nikkhama, samaṇā”ti. “Sādhāvuso”ti bhagavā nikkhami. “Pavisa, samaṇā”ti. “Sādhāvuso”ti bhagavā pāvisi.So I have heard. At one time the Buddha was staying near Āḷavī in the haunt of the native spirit Āḷavaka. Then the native spirit Āḷavaka went up to the Buddha, and said to him: “Get out, ascetic!” Saying, “All right, respectable sir,” the Buddha went out. “Get in, ascetic!” Saying, “All right, respectable sir,” the Buddha went in.
2Thế Tôn đi ra:
- Này Sa-môn, hãy đi vào.
- Lành thay, Hiền giả.
Thế Tôn đi vào.
Lần thứ ba, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:
- Này Sa-môn, hãy đi ra.
- Lành thay, Hiền giả.
Thế Tôn đi ra.
- Này Sa-môn, hãy đi vào.
- Lành thay, Hiền giả.Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho āḷavako yakkho bhagavantaṁ etadavoca: “nikkhama, samaṇā”ti. “Sādhāvuso”ti bhagavā nikkhami. “Pavisa, samaṇā”ti. “Sādhāvuso”ti bhagavā pāvisi.For a second time … And for a third time the native spirit Āḷavaka said to the Buddha, “Get out, ascetic!” Saying, “All right, respectable sir,” the Buddha went out. “Get in, ascetic!” Saying, “All right, respectable sir,” the Buddha went in.
3Thế Tôn đi vào.
Lần thứ tư, Dạ-xoa Alavaka nói với Thế Tôn:
- Này Sa-môn, hãy đi ra.
- Này Hiền giả, Ta sẽ không đi ra cho Ông. Ông cần gì hãy làm?Catutthampi kho āḷavako yakkho bhagavantaṁ etadavoca: “nikkhama, samaṇā”ti. “Na khvāhaṁ taṁ, āvuso, nikkhamissāmi. Yaṁ te karaṇīyaṁ, taṁ karohī”ti.And for a fourth time the native spirit Āḷavaka said to the Buddha, “Get out, ascetic!” “No, respectable sir, I won’t get out. Do what you must.”
4- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ngài. Nếu Ngài không trả lời cho ta, ta sẽ làm tâm trí Ngài điên loạn, hay ta sẽ bóp nát quả tim của Ngài, hay nắm chân của Ngài, ta sẽ quăng qua bờ sông bên kia sông Hằng.“Pañhaṁ taṁ, samaṇa, pucchissāmi. Sace me na byākarissasi, cittaṁ vā te khipissāmi, hadayaṁ vā te phālessāmi, pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya khipissāmī”ti.“I will ask you a question, ascetic. If you don’t answer me, I’ll drive you insane, or explode your heart, or grab you by the feet and throw you to the far shore of the Ganges!”
5- Này Hiền giả, Ta không thấy một ai trong thế giới với chư Thiên, với Ác ma và với Phạm thiên, trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, lại có thể làm tâm Ta điên loạn, hay bóp nát quả tim của Ta, hay nắm chân quăng Ta qua bên kia bờ sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, Ông cứ hỏi như ý Ông muốn.“Na khvāhaṁ taṁ, āvuso, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yo me cittaṁ vā khipeyya hadayaṁ vā phāleyya pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya khipeyya. Api ca tvaṁ, āvuso, puccha yadākaṅkhasī”ti. Atha kho āḷavako yakkho bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:“I don’t see anyone in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans who could do that to me. But anyway, ask what you wish.” Then the native spirit Āḷavaka addressed the Buddha in verse:
6Rồi Dạ-xoa với bài kệ nói với Thế Tôn:
Alavaka:
Ở đời, tài sản gì,
Tối thắng cho con người?
Cái gì khéo thực hành
Đem lại chơn an lạc.
Cái gì trong các vị,
Là vị ngọt tối thượng?
Nếp sống như thế nào,
Gọi nếp sống tối thắng?“Kiṁ sūdha vittaṁ purisassa seṭṭhaṁ, Kiṁ su suciṇṇaṁ sukhamāvahāti; Kiṁ su have sādutaraṁ rasānaṁ, Kathaṁjīviṁ jīvitamāhu seṭṭhaṁ”.“What’s a person’s best wealth? What brings happiness when practiced well? What’s the sweetest taste of all? The one they say has the best life: how do they live?”
7Thế Tôn:
Ở đời này, lòng tin,
Tối thắng cho con người,
Cái gì khéo thực hành,
Đem lại chơn an lạc?
Chánh pháp khéo thực hiện,
Đem lại chơn an lạc,
Sự thật trong các vị,
Là vị ngọt tối thượng,
Nếp sống với trí tuệ,
Là nếp sống tối thắng.“Saddhīdha vittaṁ purisassa seṭṭhaṁ, Dhammo suciṇṇo sukhamāvahāti; Saccaṁ have sādutaraṁ rasānaṁ, Paññājīviṁ jīvitamāhu seṭṭhaṁ”.“Faith here is a person’s best wealth. The teaching brings happiness when practiced well. Truth is the sweetest taste of all. The one they say has the best life lives by wisdom.”
8Alavaka:
Thế nào vượt bộc lưu?
Thế nào vượt biển lớn?
Thế nào vượt qua khổ?
Thế nào thật thanh tịnh?“Kathaṁ su tarati oghaṁ, kathaṁ su tarati aṇṇavaṁ; Kathaṁ su dukkhamacceti, kathaṁ su parisujjhati”.“How do you cross the flood? How do you cross the deluge? How do you get over suffering? How do you get purified?”
9Thế Tôn:
Với tín, vượt bộc lưu,
Không phóng dật, vượt biển,
Tinh tấn, vượt đau khổ,
Với tuệ, được thanh tịnh.“Saddhāya tarati oghaṁ, appamādena aṇṇavaṁ; Vīriyena dukkhamacceti, paññāya parisujjhati”.“By faith you cross the flood, and by diligence the deluge. By energy you get past suffering, and you’re purified by wisdom.”
10Alavaka:
Thế nào được trí tuệ?
Thế nào được tài sản?
Thế nào đạt danh xưng?
Thế nào cột bạn hữu?
Đời này qua đời sau,
Thế nào, chết không sầu?“Kathaṁ su labhate paññaṁ, kathaṁ su vindate dhanaṁ; Kathaṁ su kittiṁ pappoti, kathaṁ mittāni ganthati; Asmā lokā paraṁ lokaṁ, kathaṁ pecca na socati”.“How do you get wisdom? How do you earn wealth? How do you get a good reputation? How do you hold on to friends? How do the departed not grieve when passing from this world to the next?”
11Thế Tôn:
Tin tưởng bậc La-hán,
Tin pháp, đạt Niết-bàn,
Khéo nghe, được trí tuệ,
Bậc trí, không phóng dật.“Saddahāno arahataṁ, dhammaṁ nibbānapattiyā; Sussūsaṁ labhate paññaṁ, appamatto vicakkhaṇo.“One who is diligent and discerning gains wisdom by wanting to learn, having faith in the perfected ones, and the teaching for becoming extinguished.
12Làm thích đáng trách nhiệm,
Phấn đấu được tài sản,
Với sự thật được danh,
Bố thí cột bạn bè.Patirūpakārī dhuravā, uṭṭhātā vindate dhanaṁ; Saccena kittiṁ pappoti, dadaṁ mittāni ganthati.Being responsible, acting appropriately, and working hard you earn wealth. Truthfulness wins you a good reputation. You hold on to friends by giving.
13Ai là người gia chủ,
Tin tưởng bốn pháp này,
Sự thật và Chánh pháp,
Kiên trì và bố thí,
Vị ấy sau khi chết,
Nhất định không sầu muộn.Yassete caturo dhammā, saddhassa gharamesino; Saccaṁ dhammo dhiti cāgo, sa ve pecca na socati.A faithful householder of discernment who possesses these four qualities does not grieve after passing away: truth, principle, steadfastness, and generosity.
14Hãy hỏi các vị khác,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Nếu có pháp nào khác
Ở đời, lại thắng hơn,
Sự thật và nhiếp phục,
Bố thí và kham nhẫn?Iṅgha aññepi pucchassu, puthū samaṇabrāhmaṇe; Yadi saccā damā cāgā, khantyā bhiyyodha vijjati”.Go ahead, ask others as well, there are many ascetics and brahmins. See whether anything better is found than truth, principle, generosity, and patience.”
15Alavaka:
Sao nay con rộng hỏi,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Nay con được rõ biết,
Hiện, vị lai hạnh phúc.“Kathaṁ nu dāni puccheyyaṁ, Puthū samaṇabrāhmaṇe; Yohaṁ ajja pajānāmi, Yo attho samparāyiko.“Why now would I question the many ascetics and brahmins? Today I understand what’s good for lives to come.
16Vì hạnh phúc cho con,
Mong rằng bậc Giác Ngộ,
Hãy đi đến an trú,
Tại xứ Alavi.
Nay con đã rõ biết.
Chỗ nào thí, quả lớn.Atthāya vata me buddho, Vāsāyāḷavimāgamā; Yohaṁ ajja pajānāmi, Yattha dinnaṁ mahapphalaṁ.It was truly for my benefit that the Buddha came to stay at Āḷavī. Today I understand where a gift is very fruitful.
17Con sẽ đi bộ hành,
Làng này qua làng khác,
Thành này qua thành khác,
Đảnh lễ bậc Giác Ngộ,
Đảnh lễ thiện pháp tánh
Của Chánh pháp vi diệu.So ahaṁ vicarissāmi, Gāmā gāmaṁ purā puraṁ; Namassamāno sambuddhaṁ, Dhammassa ca sudhammatan”ti. Āḷavakasuttaṁ dasamaṁ.I myself will journey village to village, town to town, paying homage to the Buddha, and the clear rightness of the teaching!”
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 1.10 (Āḷavaka Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.10 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.