Kinh Kho Báu Chôn Giấu
Nidhikaṇḍa Sutta
Còn gọi là: Kinh Kho Tàng
Người xưa chôn vàng dưới đất để phòng thân. Đức Phật chỉ cho một kho báu khác: không ai cướp được, không chung phần với ai, và theo mình cả khi phải bỏ lại tất cả.
Trước khi đọc kinh
Kinh Kho Báu Chôn Giấu (Nidhikaṇḍa Sutta) là bài thứ tám của Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha), gồm mười sáu bài kệ. Mở đầu là chuyện quen thuộc của người xưa: chôn của dưới hố sâu gần mạch nước, phòng khi bị vua quan buộc tội, bị trộm cướp bức hiếp, phải trả nợ, gặp đói kém hay tai ương (kệ 1–2). Nhưng kho báu ấy không phải lúc nào cũng giúp được: nó có thể dời chỗ, người chôn quên mất chỗ, loài rồng hay dạ-xoa đem đi, người thừa kế không ưa mình lén đào lên; khi phước đã cạn thì tất cả tiêu tan (kệ 3–5). Theo chú giải Tiểu Tụng (Paramatthajotikā), một gia chủ giàu có ở Xá-vệ (Sāvatthī) đang dâng cơm chư Tăng do Đức Phật dẫn đầu thì vua cho người đến gọi; ông nhắn lại: “Anh cứ về trước, tôi sẽ đến sau, lúc này tôi đang chôn giấu kho báu.” Dùng cơm xong, Đức Phật nói những bài kệ này để tùy hỉ với ông. Chú giải kể rằng cuối bài, ông cùng nhiều người chứng quả Nhập lưu, và vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) khen ông đã chôn một kho báu mà đến cả nhà vua cũng không lấy được.
Kho báu thật được cất giữ bằng bố thí, giữ giới, tự chế và điều phục (kệ 6), gửi nơi bảo tháp, nơi Tăng chúng, nơi một người nào đó, nơi khách đến nhà, nơi mẹ, nơi cha và người anh cả (kệ 7). Kho báu ấy không ai chiếm đoạt được, không chung phần với ai, kẻ trộm không lấy được; dù phải bỏ lại mọi thứ mà đi, người ta vẫn mang theo được nó (kệ 8–9). Rồi các bài kệ kể những gì có được nhờ phước, từ nước da đẹp, giọng nói hay, ngôi vua, cõi trời, cho đến Niết-bàn và địa vị của một vị Phật (kệ 10–15). Chú giải chia kho báu làm bốn loại: loại đứng yên như đất đai, vàng bạc; loại di động như trâu bò, voi ngựa; loại gắn liền thân như tay chân, tức nghề nghiệp và học vấn; và loại đi theo mình, tức phước từ bố thí, giữ giới, tu tập, nghe Pháp, giảng Pháp. Chú giải cũng giải “tự chế” là định (có vị giải là phòng hộ các căn), “điều phục” là trí tuệ, và nói bảo tháp có ba loại: cây Bồ-đề, tượng Phật, và tháp thờ xá-lợi. Bài này được đặt ngay sau Kinh Ngoài Bức Tường (Khp 7): theo chú giải, bài trước cho thấy cảnh khổ của người thiếu phước, bài này cho thấy sự đầy đủ của người đã làm phước.
Bài kinh không bảo đừng để dành tiền. Lo cho lúc khó khăn là việc nên làm, và Kinh Việc Làm Xứng Đáng (AN 4.61) còn xếp việc phòng ngừa tai họa vào bốn cách dùng của cải đúng chỗ. Điều kinh nhắc là sổ tiết kiệm có giới hạn của nó, còn có một loại để dành khác mà không ngân hàng nào giữ hộ được. Đáng để ý là danh sách “chỗ gửi” rất gần gũi: ngoài chùa và chư Tăng, có cả cha mẹ, anh chị, và người khách ghé nhà. Tuần này, bạn có thể thử gửi vào “kho báu đi theo mình” một món nhỏ: một bữa cơm với cha mẹ, một lời hỏi thăm anh chị, một ly nước mời người khách lạ.
Ý chính
- Người đời chôn của để phòng khi bị vua quan buộc tội, trộm cướp, nợ nần, đói kém, tai ương (2.1–2.4).
- Kho báu ấy có thể dời chỗ, bị quên, bị lấy mất; khi phước cạn thì tất cả tiêu tan (4.1–5.4).
- Kho báu thật được cất giữ bằng bố thí, giữ giới, tự chế và điều phục (6.1–6.4).
- Gửi nơi bảo tháp, Tăng chúng, một người nào đó, khách đến nhà, mẹ, cha và người anh cả (7.1–7.4).
- Kho báu ấy không ai chiếm đoạt được, không chung phần với ai, theo mình khi phải bỏ lại tất cả (8.1–9.2).
- Nhờ phước mà có được thành tựu ở cõi người, niềm vui cõi trời và cả Niết-bàn (13.1–13.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- nidhi
- kho báu, của cải được cất giữ
- anugāmika
- đi theo mình, theo mình sang đời sau
- puñña
- phước, việc thiện đem lại an vui
- puññakkhaya
- phước đã cạn
- dāna / sīla
- bố thí / giữ giới
- saṁyama / dama
- tự chế / điều phục; theo chú giải là định / trí tuệ
- cetiya
- bảo tháp; theo chú giải gồm cây Bồ-đề, tượng Phật, tháp xá-lợi
- atithi
- khách đến nhà, người khách bất chợt
Kinh Kho Báu Chôn Giấu
1Một người cất kho báu,
Ở tận dưới giếng sâu,
Nghĩ: “Nếu cần giúp đỡ,
Nó ích lợi cho ta”.Nidhiṁ nidheti puriso, gambhīre odakantike; Atthe kicce samuppanne, atthāya me bhavissati.A person stores away their savings in a deep trove by the water’s edge: “When need arises it will be there to help
2Nếu bị vua kết án,
Hoặc trả các nợ nần,
Hoặc bị cướp giam cầm,
Và đòi tiền chuộc mạng,
Khi mất mùa, tai nạn,
Với mục đích như vầy,
Ở trên cõi đời này,
Sẽ đến giành kho báu.Rājato vā duruttassa, corato pīḷitassa vā; Iṇassa vā pamokkhāya, dubbhikkhe āpadāsu vā; Etadatthāya lokasmiṁ, nidhi nāma nidhīyati.free me from rulers if I am slandered, or from bandits if harassed, or to release me from debt, or in case of famine or losses.” What the world calls savings get stored away for such reasons.
3Dẫu nó không bao giờ,
Được cất kỹ như vậy,
Ở tận dưới giếng sâu,
Vẫn không đủ hoàn toàn,
Giúp ích người mọi lúc.Tāvassunihito santo, gambhīre odakantike; Na sabbo sabbadā eva, tassa taṁ upakappati.But no matter how well stored away they are in a deep pit by the water’s edge, all their savings will fail to aid them all the time.
4Kho báu bị dời chỗ,
Hoặc người quên dấu vết,
Hoặc rắn thần lấy đi,
Hoặc thần linh tẩu tán,Nidhi vā ṭhānā cavati, saññā vāssa vimuyhati; Nāgā vā apanāmenti, yakkhā vāpi haranti naṁ.For perhaps those savings shift from there, or they forget what marks the site, or dragons make off with them, or spirits carry them away,
5Hoặc đám người thừa kế,
Kẻ ấy không chấp nhận,
Di chuyển kho báu đi,
Khi kẻ ấy không thấy.
Và khi phước đức tận,
Tất cả đều tiêu tan.Appiyā vāpi dāyādā, uddharanti apassato; Yadā puññakkhayo hoti, sabbametaṁ vinassati.or unloved heirs secretly unearth them. When their merit is used up, all of that will vanish.
6Những khi người nam, nữ,
Có bố thí, trì giới
Hoặc thiền định, trí tuệ,
Kho báu khéo để dành.Yassa dānena sīlena, saṁyamena damena ca; Nidhī sunihito hoti, itthiyā purisassa vā.But by giving and morality, restraint and self-control, a woman or man keeps their savings safe.
7Trong chùa, tháp, Tăng đoàn,
Một cá nhân, lữ khách,
Hoặc người mẹ, người cha,
Hoặc là người anh nữa.Cetiyamhi ca saṅghe vā, puggale atithīsu vā; Mātari pitari cāpi, atho jeṭṭhamhi bhātari.At a shrine or with the Saṅgha, with mother or father, or else an elder sibling,
8Kho này khéo để dành,
Đi theo người, không mất,
Giữa mọi vật phải rời,
Người cùng đi với nó.Eso nidhi sunihito, ajeyyo anugāmiko; Pahāya gamanīyesu, etaṁ ādāya gacchati.those savings are kept safe, they stay with you, undecaying. We must go on leaving all behind, only this you take when you go.
9Không ai khác chia phần,
Không cướp nào lấy được.
Vậy những kẻ tinh cần,
Hãy làm việc phước đức,
Kho báu ấy theo người,
Sẽ không bao giờ mất.Asādhāraṇamaññesaṁ, acorāharaṇo nidhi; Kayirātha dhīro puññāni, yo nidhi anugāmiko.You don’t have to share it with others, no thief makes off with your savings. An attentive one would make merit, the savings that stay with you.
10Đây là một kho báu,
Có thể làm thỏa mãn,
Mọi ước vọng thiên, nhân,
Dù họ mong muốn gì,
Đều đạt được tất cả,
Nhờ công đức phước nghiệp.Esa devamanussānaṁ, sabbakāmadado nidhi; Yaṁ yadevābhipatthenti, sabbametena labbhati.Such savings grant every desire of gods and humans too. Whatever it is that they wish for through this they have it all.
11Vẻ đẹp của màu da,
Vẻ đẹp của âm thanh,
Vẻ đẹp của dáng hình,
Vẻ đẹp của toàn thân,
Địa vị thật cao sang,
Cùng với đoàn hầu cận,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.Suvaṇṇatā susaratā, susaṇṭhānā surūpatā; Ādhipaccaparivāro, sabbametena labbhati.Good looks, a sweet voice, a good shape, and good appearance, leadership and followers: through this they have it all.
12Ngôi đế vương một cõi,
Cực lạc Chuyển luân vương,
Và ngự trên Thiên đường,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.Padesarajjaṁ issariyaṁ, cakkavattisukhaṁ piyaṁ; Devarajjampi dibbesu, sabbametena labbhati.Sovereignty of a local kingdom, the happiness of a Wheel-Turning Monarch, even kingship in the heavens: through this they have it all.
13Vẻ tối thắng của người,
Mọi hoan lạc cõi trời,
Hay tịch diệt tối thắng,
Tất cả đều đạt được
Nhờ phước nghiệp công đức.Mānussikā ca sampatti, devaloke ca yā rati; Yā ca nibbānasampatti, sabbametena labbhati.Human success, heavenly delight, attaining extinguishment: through this they have it all.
14Đạt tối thắng bằng hữu,
Chuyên tu tập chánh chân,
Đạt minh trí giải thoát,
Tất cả đều đạt được.
Nhờ phước nghiệp công đức.Mittasampadamāgamma, yonisova payuñjato; Vijjāvimuttivasībhāvo, sabbametena labbhati.Relying on having good friends, rational application of effort, mastery of knowledge and freedom: through this they have it all.
15Tứ vô ngại giải đạo,
Tám cấp độ giải thoát,
Viên mãn trí Thanh văn,
Cả hai cách giác ngộ:
Độc giác, Chánh Đẳng giác,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.Paṭisambhidā vimokkhā ca, yā ca sāvakapāramī; Paccekabodhi buddhabhūmi, sabbametena labbhati.Analytical knowledge, the liberations, the perfections of the disciple, the plane of an independent Buddha: through this they have it all.
16–17Phước báo thật lớn lao,
Do công đức thù thắng,
Vì thế kẻ tinh cần,
Và những người có trí,
Đã tạo nện kho tàng. Công đức nhờ phước nghiệp.
The Discourse on the Amount of Savings is FinishedEvaṁ mahatthikā esā, yadidaṁ puññasampadā; Tasmā dhīrā pasaṁsanti, paṇḍitā katapuññatanti. Nidhikaṇḍasuttaṁ.This accomplishment in merit is so very beneficial. That’s why the attentive and the astute praise the making of merit.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tiểu Tụng 8 (Nidhikaṇḍa Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Khp 8 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.