Kinh Ba Thời
Addhā Sutta
Kinh Ba Thời nêu ba thời gian là quá khứ, tương lai và hiện tại, rồi bài kệ đối chiếu người chưa liễu tri, tức chưa thấy rõ, điều đáng tuyên bố với người đã liễu tri và được an tịnh.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Ba thời gian là thời gian quá khứ, thời gian tương lai và thời gian hiện tại.
- Người chưa liễu tri, tức chưa thấy rõ, điều đáng tuyên bố thì đi đến ách nạn dưới ách của thần chết.
- Người đã liễu tri thì không nghĩ đến điều đã được nói lên, được an tịnh và an trú trên chánh pháp.
Kinh Ba Thời nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, thuộc Tiểu Bộ, một trong năm bộ Nikāya (năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli). Bài kinh mang số hiệu Iti 63 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba thời gian. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 5.4, và lời kết nằm ở đoạn 6.1 đến 6.2.
Chữ addhā, thời gian, được kinh chia thành quá khứ, tương lai và hiện tại, còn bài kệ xoay quanh điều đáng tuyên bố và sự liễu tri điều ấy. Kinh không kể một câu chuyện dài và không nêu tên một người nào, mà đi từ lời dạy ngắn gọn đến bài kệ đối chiếu hai trạng thái của chúng sanh. Cấu trúc này giúp bạn nắm được ý chính ngay từ lần đọc đầu.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- addhā
- thời gian
- atīto
- quá khứ
- anāgato
- tương lai
- paccuppanno
- hiện tại
- akkheyyaṁ
- điều đáng được tuyên bố
- pariññāya
- sau khi liễu tri
- santipade
- con đường an tịnh
- vedagū
- bậc đạt trí tuệ
Kinh Ba Thời
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba thời gian này. Thế nào là ba? Thời gian quá khứ, thời gian tương lại, thời gian hiện tại. Này các Tỷ-kheo, có ba thời gian này.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tayome, bhikkhave, addhā. Katame tayo? Atīto addhā, anāgato addhā, paccuppanno addhā— ime kho, bhikkhave, tayo addhā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three periods. What three? Past, future, and present. These are the three periods.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Chúng sanh cần tưởng đến
Những gì được tuyên bố,
An trú thật vững vàng,
Trên điều được tuyên bố
Nếu không có liễu tri,
Điều đáng được tuyên bố,
Họ đi đến ách nạn,
Dưới ách của thần chết.
Nếu đã liễu tri được
Điều đáng được tuyên bố,
Vị ấy không nghĩ đến,
Điều đã được nói lên,
Chính nhờ có tâm ý,
Giải thoát được cảm giác,
Về con đường an tịnh
Vô thượng không gì hơn.
Ai thật được đầy đủ,
Về điều đáng tuyên bố,
Tự mình được an tịnh,
Ưa thích đường an tịnh,
Sống bình tĩnh tinh tấn.
An trú trên chánh pháp,
Vị ấy vượt tên gọi,
Thành đạt được trí tuệ.“Akkheyyasaññino sattā,
akkheyyasmiṁ patiṭṭhitā;
Akkheyyaṁ apariññāya,
yogamāyanti maccuno.
Akkheyyañca pariññāya,
akkhātāraṁ na maññati;
Phuṭṭho vimokkho manasā,
santipadamanuttaraṁ.
Sa ve akkheyyasampanno,
santo santipade rato;
Saṅkhāya sevī dhammaṭṭho,
saṅkhyaṁ nopeti vedagū”ti.“Sentient beings who perceive the communicable, become established in the communicable. Not understanding the communicable, they fall under the yoke of Death. But having fully understood the communicable, they don’t conceive a communicator, as they’ve touched liberation with their mind, the supreme state of peace. Accomplished in the communicable, peaceful, in love with the state of peace; one who makes use after appraisal, firm in principle, a knowledge master cannot be reckoned.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Catutthaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nêu ba thời gian là quá khứ, tương lai và hiện tại, và bài kệ nói về việc liễu tri điều đáng tuyên bố. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, liễu tri ở đây là thấy rõ điều ấy thay vì chỉ tưởng đến nó, nên người liễu tri không còn bị điều đã được nói lên dẫn dắt.
Bài kệ đối chiếu hai phía một cách rõ ràng: người chưa liễu tri thì đi đến ách nạn dưới ách của thần chết, còn người đã liễu tri thì có tâm ý giải thoát được cảm giác và đi trên con đường an tịnh vô thượng. Theo cách đọc của người viết, sự đối chiếu này cho thấy an tịnh không đến từ việc đổi thời gian mà đến từ sự liễu tri ngay trong thời gian đang sống.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải thường day dứt về một việc cũ và lo lắng về một việc sắp tới, đến khi chú nhìn thẳng vào việc đang làm trong ngày hôm nay thì tâm chú bớt xao động, và sự bớt xao động ấy đến từ việc thấy rõ việc trước mắt chứ không đến từ việc xóa đi quá khứ hay tương lai.
Kinh kết bằng hình ảnh người đầy đủ về điều đáng tuyên bố thì tự được an tịnh, ưa thích đường an tịnh, sống bình tĩnh tinh tấn và an trú trên chánh pháp. Theo cách đọc của người viết, bình tĩnh và tinh tấn đi cùng nhau ở đây cho thấy an tịnh không phải là buông xuôi mà là sống vững vàng trong chánh pháp.
Người liễu tri điều đáng tuyên bố đi trên con đường an tịnh vô thượng.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 63 (Addhā Sutta, Itivuttaka 63). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 63 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.