Kinh Cảm Thọ Thứ Hai
Dutiyavedanā Sutta
Kinh Cảm Thọ Thứ Hai dạy xem lạc thọ như khổ, khổ thọ như mũi tên và bất khổ bất lạc thọ như vô thường, và gọi vị thấy được như vậy là bậc Thánh đã thấy chơn chánh.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Lạc thọ cần được xem như khổ, khổ thọ như mũi tên và bất khổ bất lạc thọ như vô thường.
- Người thấy được như vậy được gọi là bậc Thánh đã thấy chơn chánh.
- Vị ấy đã chặt đứt ái, giải toả kiết sử, thắng tri mạn và đoạn tận khổ đau.
Kinh Cảm Thọ Thứ Hai nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mang số hiệu Iti 53 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba cảm thọ. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.10, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 4.4, và lời kết nằm ở đoạn 5.1 đến 5.2.
Chữ sallato, như mũi tên, là hình ảnh kinh dùng cho khổ thọ, còn chữ aniccato, như vô thường, là cách kinh dạy nhìn bất khổ bất lạc thọ. Kinh không nói cảm thọ lạc là điều xấu tự thân, mà dạy xem nó như khổ vì nó đổi thay và không giữ được. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cách xem này không phủ nhận cảm giác dễ chịu đang có mặt, mà ngăn tâm bám vào nó như thể nó sẽ ở mãi.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- vedanā
- cảm thọ
- sukhā
- lạc
- dukkhā
- khổ
- adukkhamasukhā
- bất khổ bất lạc
- dukkhato
- như khổ
- sallato
- như mũi tên
- aniccato
- như vô thường
- taṇhaṁ
- ái
- saṁyojanaṁ
- kiết sử
- mānābhisamayā
- thắng tri mạn
Kinh Cảm Thọ Thứ Hai
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, lạc thọ cần phải được xem như là khổ. Khổ thọ cần phải được xem như là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải được xem như là vô thường. Vì rằng này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã xem lạc thọ như là khổ, đã xem khổ thọ như là mũi tên, đã xem bất khổ bất lạc thọ như là vô thường, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này gọi là bậc Thánh đã chơn chánh thấy, đã chặt đứt ái, đã giải toả kiết sử đã chơn chánh thắng tri mạn, đã đoạn tận khổ đau.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tisso imā, bhikkhave, vedanā. Katamā tisso? Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. Sukhā, bhikkhave, vedanā dukkhato daṭṭhabbā; dukkhā vedanā sallato daṭṭhabbā; adukkhamasukhā vedanā aniccato daṭṭhabbā. Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhā vedanā dukkhato diṭṭhā hoti, dukkhā vedanā sallato diṭṭhā hoti, adukkhamasukhā vedanā aniccato diṭṭhā hoti; ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu ariyo, sammaddaso, acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three feelings. What three? Pleasant, painful, and neutral feeling. Pleasant feeling should be seen as suffering. Painful feeling should be seen as a dart. Neutral feeling should be seen as impermanent. When a mendicant has seen these three feelings in this way, they’re called a noble mendicant who sees rightly, has cut off craving, cast off the fetters, and by rightly comprehending conceit has made an end of suffering.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Ai thấy lạc là khổ,
Thấy khổ là mũi tên,
Thấy bất khổ bất lạc
Thọ ấy là vô thường,
Tỷ-kheo ấy thật sự
Đã thấy thật chơn chánh,
Chính tại ở nơi đây,
Từ đấy được giải thoát.
Thành tựu được thắng trí,
Bậc ẩn sĩ an tịnh
Chắc chắn đã vượt qua
Các ách nạn trói buộc.“Yo sukhaṁ dukkhato adda,
Dukkhamaddakkhi sallato;
Adukkhamasukhaṁ santaṁ,
Adakkhi naṁ aniccato.
Sa ve sammaddaso bhikkhu,
yato tattha vimuccati;
Abhiññāvosito santo,
sa ve yogātigo munī”ti.“A mendicant who sees pleasure as pain, and suffering as a dart, and that peaceful, neutral feeling as impermanent sees rightly. And when freed in regards to that, that peaceful sage, with perfect insight, has truly slipped their yokes.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Catutthaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Bài kinh này đi xa hơn bài kinh trước về cùng một chủ đề, vì nó không chỉ nêu ba cảm thọ mà còn dạy một cách xem cho mỗi loại. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cách xem là một phương tiện thực hành: khi cảm thọ khởi lên thì tâm có sẵn một hướng nhìn đúng, thay vì để cảm thọ tự dẫn tâm đi.
Bài kệ nhắc lại cách xem ấy bằng hình ảnh ngắn gọn, và nói vị thấy được như vậy thì tại ngay nơi đây được giải thoát, thành tựu thắng trí và vượt qua các ách nạn trói buộc. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, giải thoát ở đây gắn liền với cái thấy, chứ không phải đợi đến một lúc khác hay một nơi khác.
Ví dụ của người viết (không phải lời kinh), không phải chuyện trong kinh: một người nhận được lời khen và thấy lòng vui lên, nhưng nhớ rằng niềm vui này sẽ qua nên không tìm cách giữ mãi lời khen ấy, và khi lời chê đến sau đó thì lòng người ấy cũng ít chao đảo hơn.
Kinh gọi vị ấy là bậc Thánh đã chơn chánh thấy, đã chặt đứt ái, giải toả kiết sử, thắng tri mạn và đoạn tận khổ đau. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chuỗi này cho thấy cái thấy đúng không dừng ở hiểu biết mà mở ra sự buông bỏ những trói buộc đang giữ tâm lại với khổ.
Xem lạc như khổ, khổ như mũi tên và bất khổ bất lạc như vô thường là cái thấy chơn chánh đưa đến đoạn tận khổ đau.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 53 (Dutiyavedanā Sutta, Itivuttaka 53). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 53 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.