Kinh Thuyết Giảng
Desanā Sutta
Bài kinh trình bày hai lời thuyết giảng của Đức Phật tiếp nối nhau. Lời đầu dạy thấy ác đúng là ác, lời sau dạy nhàm chán, từ bỏ và thoát ly khỏi ác.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Thấy ác đúng là ác, không xem ác là điều tốt hay điều không đáng kể.
- Sau khi thấy rõ ác, nhàm chán, từ bỏ và thoát ly khỏi ác.
- Lìa tham đắm đối với ác làm cho khổ đau được an tịnh.
Bài kinh thuộc bộ Phật Thuyết Như Vậy, nằm trong Tiểu Bộ của tạng Kinh. Kinh được nói với các vị Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia, và mở đầu bằng lời ghi nhận rằng điều này đã được Thế Tôn nói đến. Nội dung chính nằm ở đoạn 1.1 đến đoạn 2.9, nơi Đức Phật nêu hai lời thuyết giảng tiếp nối nhau.
Sau phần văn xuôi, đoạn 3.1 đến đoạn 4.4 trình bày lại ý chính bằng kệ ngôn, nhấn mạnh lòng từ mẫn đối với mọi chúng sanh và con đường từ thấy rõ ác đến lìa tham đắm. Đoạn 5.1 đến đoạn 5.2 khép lại bằng lời ghi nhận ý nghĩa đã được nói đến. Toàn bài giữ một mạch rõ ràng: nhận biết trước, buông bỏ sau.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- <i>dhammadesanā</i>
- thuyết giảng về pháp
- <i>pāpaṁ</i>
- điều ác
- <i>paṭhamā</i>
- thứ nhất
- <i>dutiyā</i>
- thứ hai
- <i>nibbindatha</i>
- hãy nhàm chán
- <i>virajjatha</i>
- hãy lìa tham đắm
- <i>vimuccathā</i>
- hãy thoát ly
Kinh Thuyết Giảng
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Có hai loại thuyết pháp của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh-Đẳng Giác, cái này tiếp nối cái kia. Thế nào là hai? “Hãy thấy ác là ác”, đây là thuyết pháp thứ nhất. Sau khi thấy ác là ác, ở đây, “Hãy nhàm chán, hãy từ bỏ, hãy thoát ly”, đây là thuyết pháp thứ hai. Này các Tỷ-kheo, có hai loại thuyết pháp này của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, cái này tiếp nối cái kia.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tathāgatassa, bhikkhave, arahato sammāsambuddhassa dve dhammadesanā pariyāyena bhavanti. Katamā dve? ‘Pāpaṁ pāpakato passathā’ti— ayaṁ paṭhamā dhammadesanā; ‘pāpaṁ pāpakato disvā tattha nibbindatha virajjatha vimuccathā’ti— ayaṁ dutiyā dhammadesanā. Tathāgatassa, bhikkhave, arahato sammāsambuddhassa imā dve dhammadesanā pariyāyena bhavantī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha has two approaches to teaching Dhamma. What two? ‘See evil as evil’— this is the first approach to teaching Dhamma. ‘Having seen evil as evil, be disillusioned, dispassionate, and freed from it’— this is the second approach to teaching Dhamma. The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha has these two approaches to teaching Dhamma.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Với Như Lai, Phật Đà,
Từ mẫn mọi chúng sanh,
Hãy thấy lời thuyết giảng,
Tuần tự pháp theo pháp,
Hai pháp được trình bày,
Một là hãy nhìn rõ,
Pháp ác là pháp ác
Và chính tại ở đây,
Từ bỏ, không tham đắm.
Từ đây, không tham đắm,
Hãy làm cho an tịnh,
Mọi khổ đau phiền não.“Tathāgatassa buddhassa,
sabbabhūtānukampino;
Pariyāyavacanaṁ passa,
dve ca dhammā pakāsitā.
Pāpakaṁ passatha cetaṁ,
tattha cāpi virajjatha;
Tato virattacittāse,
dukkhassantaṁ karissathā”ti.“See the two approaches for explaining the Dhamma used by the Realized One, the Buddha, compassionate for all beings: see that that is evil, and be dispassionate toward it. Then, with a mind free of desire, you’ll make an end of suffering.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dutiyaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nêu hai lời thuyết giảng tiếp nối nhau. Lời thứ nhất dạy thấy ác đúng là ác. Lời thứ hai dạy rằng sau khi đã thấy ác là ác, cần nhàm chán, từ bỏ và thoát ly. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thứ tự này cho thấy nhận biết đi trước và buông bỏ theo sau, không đảo ngược.
Kệ ngôn nhắc lại cùng một mạch ý và kết bằng sự an tịnh của khổ đau khi tâm đã lìa tham đắm. Như vậy, kinh không dừng ở việc gọi tên ác mà đi đến việc rời khỏi ác trong đời sống. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, lìa tham đắm ở đây được hiểu là không còn giữ chặt điều đã thấy là ác.
Ví dụ đời thường (không phải lời kinh): chị Lan nhận ra thói quen nói lời gây tổn thương là điều ác, nên chị dừng lại trước khi nói và tập nói lời nhẹ nhàng hơn. Ví dụ này chỉ minh họa thứ tự thấy rõ rồi từ bỏ, không thêm ý mới vào lời kinh.
Với bạn đọc, bài kinh đặt ra một câu hỏi thực hành rõ ràng: điều nào bạn đã thấy là ác mà bạn vẫn còn giữ lại. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu hỏi này giúp bạn soi lại đời sống hằng ngày mà không cần thêm một tiêu chuẩn nào ngoài lời kinh.
Thấy ác là ác, rồi nhàm chán, từ bỏ và thoát ly, đó là mạch ý xuyên suốt của bài kinh.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 39 (Desanā Sutta, Itivuttaka 39). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 39 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.