Phật Thuyết Như Vậy 62 · Iti 62

Kinh Căn

Indriya Sutta

Kinh Căn nêu ba căn là căn của người sắp biết điều chưa biết, căn về sự biết và căn của người đã biết, cùng hình ảnh người đầy đủ các căn được an tịnh.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Ba căn là căn sẽ biết điều chưa được biết, căn về sự biết và căn của người đã biết.
  • Vị hữu học đi theo con đường thẳng và trí về sự diệt tận khởi lên trước, rồi chơn trí, tức trí chân thật, tiếp nối không gián đoạn.
  • Vị đầy đủ các căn được an tịnh, ưa thích con đường an tịnh và mang thân thể cuối cùng sau khi thắng Ác ma, tức ma vương.

Kinh Căn nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, thuộc Tiểu Bộ, một trong năm bộ Nikāya (năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli). Bài kinh mang số hiệu Iti 62 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba căn. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 5.4, và lời kết nằm ở đoạn 6.1 đến 6.2.

Chữ indriyāni, các căn, là tên gọi chung cho ba căn mà kinh nêu, gồm căn sẽ biết điều chưa được biết, căn về sự biết và căn của người đã biết. Kinh không kể một câu chuyện dài và không nêu tên một người nào, mà đi từ lời dạy ngắn gọn đến bài kệ nói về vị hữu học, tức người còn đang học đạo, trên con đường thẳng.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
indriyāni
các căn
anaññātaññassāmītindriyaṁ
căn sẽ biết điều chưa được biết
aññindriyaṁ
căn về sự biết
aññātāvindriyaṁ
căn của người đã biết
bhikkhave
này các Tỷ-kheo
ñāṇaṁ
trí
aññā
sự biết
santipade
con đường an tịnh

Kinh Căn

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba căn này. Thế nào là ba? Vị tri đương tri căn, tri căn, cụ tri căn (căn: “Tôi sẽ biết điều chưa được biết”; căn về sự biết; căn của người đã biết). Này các Tỷ-kheo, có ba loại căn này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tīṇimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni tīṇi? Anaññātaññassāmītindriyaṁ, aññindriyaṁ, aññātāvindriyaṁ— imāni kho, bhikkhave, tīṇi indriyānī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three faculties. What three? The faculty of understanding that enlightenment is imminent. The faculty of enlightenment. The faculty of one who is enlightened. These are the three faculties.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Vị hữu học học tập,
Đi theo con đường thẳng,
Ở trong sự diệt tận,
Trí thứ nhất khởi lên,
Từ đó không gián đoạn,
Tiếp theo là chơn trí,
Chính từ chơn trí ấy,
Đạt được sự giải thoát
Chắc chắn vị như vậy,
Là vị có chánh trí,
Giải thoát ta bất động,
Nhờ diệt hữu kiết sử,
Vị đầy đủ các căn
Chắc chắn được an tịnh,
Và ưa thích con đường,
Đưa đến sự an tịnh,
Mang thân thể cuối cùng,
Sau khi đánh bại được
Ác ma với con voi
Được cỡi khi lâm trận.
“Sekhassa sikkhamānassa,
ujumaggānusārino;
Khayasmiṁ paṭhamaṁ ñāṇaṁ,
tato aññā anantarā.
Tato aññāvimuttassa,
ñāṇaṁ ve hoti tādino;
Akuppā me vimuttīti,
bhavasaṁyojanakkhayā.
Sa ve indriyasampanno,
santo santipade rato;
Dhāreti antimaṁ dehaṁ,
jetvā māraṁ savāhinin”ti.
“As a trainee trains, following the straight road, first they know about ending; enlightenment follows without delay. Then the knowledge comes to such a one, freed through enlightenment, with the end of the fetters of continued existence: ‘My freedom is unshakable.’ Accomplished in the faculties, peaceful, in love with the state of peace, they bear their final body, having vanquished Māra with his legions.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Tatiyaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh nêu ba căn là căn sẽ biết điều chưa được biết, căn về sự biết và căn của người đã biết. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, người sắp biết đứng ở đầu con đường, người đang biết đứng ở giữa con đường, và người đã biết đứng ở chỗ con đường đã thành tựu, nên ba căn có thể đọc như cùng một hành trình ở ba thời điểm khác nhau.

Bài kệ nói trí thứ nhất khởi lên ở trong sự diệt tận, rồi chơn trí, tức trí chân thật, tiếp nối không gián đoạn và đưa đến giải thoát bất động nhờ diệt hữu kiết sử, tức trói buộc đưa đến hiện hữu. Theo cách đọc của người viết, sự tiếp nối không gián đoạn cho thấy trí sau lớn lên từ trí trước, chứ không xuất hiện riêng lẻ.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan học một nghề mới. Lúc đầu chị chưa biết nghề ấy, sau một thời gian thực hành chị bắt đầu biết cách làm, rồi cuối cùng chị làm vững tay mà không còn lúng túng.

Kinh kết bằng hình ảnh vị đầy đủ các căn được an tịnh, ưa thích con đường an tịnh và mang thân thể cuối cùng sau khi thắng Ác ma. Theo cách đọc của người viết, an tịnh ở đây không phải là sự nghỉ ngơi tạm thời mà là trạng thái của người đầy đủ các căn, nên bài kinh khép lại bằng sự vững vàng chứ không khép lại bằng một lời hứa hẹn nào khác.

Bài kệ khép lại bằng hình ảnh người đầy đủ các căn được an tịnh trên con đường an tịnh.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 62 (Indriya Sutta, Itivuttaka 62). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 62 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp