Phật Thuyết Như Vậy 18 · Iti 18

Kinh Chia Rẽ Tăng

Saṅghabheda Sutta

Kinh Chia Rẽ Tăng dạy rằng chỉ một pháp khởi lên ở đời cũng đủ đem lại bất hạnh cho nhiều người, đó là phá hòa hợp Tăng.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Một pháp phá hòa hợp Tăng khi khởi lên đem lại bất hạnh và bất lợi cho nhiều người.
  • Khi Tăng bị phá hoại, các thành viên tranh luận, mắng nhiếc, ngăn cách và từ bỏ lẫn nhau.
  • Người phá hòa hợp Tăng bị rơi vào đọa xứ và địa ngục, trú đến trọn cả kiếp.

Kinh Chia Rẽ Tăng thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy, tức Itivuttaka, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ Kinh. Kinh nêu một pháp duy nhất khởi lên ở đời mà hậu quả lan rộng đến nhiều người, đến chư Thiên và loài Người, đó là phá hòa hợp Tăng.

Bài kinh có cấu trúc gọn và dễ theo dõi. Phần xuôi nêu rõ pháp đó và mô tả cảnh Tăng bị phá hoại, phần kệ nêu quả báo của người phá hòa hợp, và phần kết xác nhận ý nghĩa đã được Thế Tôn nói đến. Chữ saṅghabheda, phá hòa hợp Tăng, là điểm tựa xuyên suốt bài kinh, và theo cách đọc của người viết, người đọc có thể theo dõi hai bước trong bài kinh: thấy rõ hậu quả lan rộng của việc phá hòa hợp, rồi thấy rõ quả báo lâu dài dành cho kẻ phá hoại.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
saṅghabheda
phá hòa hợp Tăng
saṅghabhedako
người phá hòa hợp Tăng
niraya
địa ngục
āpāyika
rơi vào đọa xứ, cõi khổ
kappa
kiếp
adhamma
phi pháp
yogakkhema
an ổn khỏi khổ ách
devamanussa
chư Thiên và loài Người

Kinh Chia Rẽ Tăng

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có một pháp khởi lên ở đời, khi khởi lên đem lại bất hạnh cho nhiều người, đem lại bất lợi cho nhiều người, đem lại không lợi ích cho nhiều người, đem lại bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người.

Thế nào là một pháp? Phá hòa hợp Tăng. Này các Tỷ-kheo, khi chúng Tăng bị phá hoại, thì có những tranh luận với nhau, có những mắng nhiếc lẫn nhau, có những ngăn cách lẫn nhau, có những từ bỏ lẫn nhau. Ở tại đấy, những người không hòa hợp, không đi đến hòa hợp và những người có hòa hợp, sự nhất trí đi đến nơi khác.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Ekadhammo, bhikkhave, loke uppajjamāno uppajjati bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Katamo ekadhammo? Saṅghabhedo. Saṅghe kho pana, bhikkhave, bhinne aññamaññaṁ bhaṇḍanāni ceva honti, aññamaññaṁ paribhāsā ca honti, aññamaññaṁ parikkhepā ca honti, aññamaññaṁ pariccajanā ca honti. Tattha appasannā ceva nappasīdanti, pasannānañca ekaccānaṁ aññathattaṁ hotī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “One thing, mendicants, arises in the world for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans. What one thing? Schism in the Saṅgha. When the Saṅgha is split, they argue, insult, block, and forsake each other. This doesn’t inspire confidence in those without it, and it causes some with confidence to change their minds.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Bị rơi vào đọa xứ,
Bị rơi vào địa ngục,
Trú đến trọn cả kiếp,
Người phá hòa hợp Tăng.
Ưa thích phá hòa hợp,
An trú trên phi pháp,
Rơi rớt, vượt ra khỏi.
An ổn khỏi khổ ách;
Kẻ phá sự hòa hợp,
Của Tăng chúng hòa hợp,
Bị nung nấu trọn kiếp,
Trong cảnh giới địa ngục.
“Āpāyiko nerayiko,
Kappaṭṭho saṅghabhedako;
Vaggārāmo adhammaṭṭho,
Yogakkhemā padhaṁsati;
Saṅghaṁ samaggaṁ bhetvāna,
Kappaṁ nirayamhi paccatī”ti.
“A schismatic remains for the eon in a place of loss, in hell. Taking a stand against the teaching, favoring factions, they ruin their sanctuary. After causing schism in a harmonious Saṅgha, they burn in hell for an eon.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Aṭṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh chỉ nêu một pháp duy nhất, nhưng hậu quả của pháp ấy được kể rộng: bất hạnh cho nhiều người, bất lợi cho nhiều người, không lợi ích cho nhiều người, và bất hạnh cùng đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Theo cách đọc của người viết, cách kể này cho thấy phá hòa hợp không phải việc riêng của một người mà là việc làm rung chuyển cả cộng đồng.

Khi Tăng bị phá hoại, kinh kể bốn biểu hiện đi cùng nhau: tranh luận với nhau, mắng nhiếc lẫn nhau, ngăn cách lẫn nhau và từ bỏ lẫn nhau. Cùng lúc đó, những người chưa hòa hợp thì không đi đến hòa hợp, còn những người đã hòa hợp thì sự nhất trí đi đến nơi khác. Theo cách đọc của người viết, cộng đồng vì vậy mất dần cả người mới lẫn sự đồng thuận cũ.

Kệ kinh nêu quả báo của người phá hòa hợp: bị rơi vào đọa xứ, bị rơi vào địa ngục và trú đến trọn cả kiếp. Người ưa thích phá hòa hợp, an trú trên phi pháp thì rơi rớt, tách khỏi sự an ổn thoát khỏi khổ ách (yogakkhema). Phần kệ này là lời cảnh báo về quả báo, không phải lời nguyền rủa. Phần giải thích này là cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh. Ví dụ của người viết, không phải lời kinh: một nhóm cùng làm việc chung mà cãi nhau thì người mới ngại vào, còn người cũ cũng khó giữ sự đồng thuận.

Giữ hòa hợp Tăng là giữ cho nhiều người khỏi bất hạnh, và giữ cho chính người giữ khỏi rơi vào khổ cảnh lâu dài.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 18 (Saṅghabheda Sutta, Itivuttaka 18). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 18 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp