Tăng Chi Bộ 5.38 · AN 5.38

Kinh Có Lòng Tin

Saddha Sutta

Kinh Có Lòng Tin nói người có lòng tin được các bậc thiện nhân thương tưởng trước hết, và ví người ấy như cây bàng lớn làm chỗ nương tựa cho nhiều người.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Kinh nêu năm lợi ích cho thiện nam tử có lòng tin, từ sự thương tưởng của các bậc thiện nhân đến việc sanh lên cõi lành.
  • Kinh ví người có lòng tin như cây bàng lớn trên khoảnh đất tốt, làm chỗ nương tựa cho nhiều người chung quanh.
  • Những vị đã đoạn tham, đoạn sân, đoạn si, không còn lậu hoặc, là ruộng phước ở đời, đến thuyết pháp cho người có lòng tin, và người ấy hiểu pháp rồi viên tịch không lậu hoặc.

Kinh Có Lòng Tin, số hiệu AN 5.38, nằm trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, thuộc bộ kinh Tăng Chi, tức bộ kinh xếp các pháp theo số. Kinh mở đầu bằng việc nêu năm lợi ích cho thiện nam tử có lòng tin.

Kinh dùng hình ảnh cây bàng lớn trên khoảnh đất tốt tại ngã tư đường để ví người có lòng tin là chỗ nương tựa cho nhiều người. Sau đó là các câu kệ nói về cây bàng, về người trì giới có lòng tịnh tín, và về những vị đã đoạn tham, đoạn sân, đoạn si đến thuyết pháp cho người có lòng tin, rồi người ấy hiểu pháp và viên tịch không lậu hoặc.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
saddha
lòng tin
kulaputta
thiện nam tử
ānisaṁsa
lợi ích
sappurisa
bậc chân nhân
paṭisaraṇa
chỗ nương tựa
mahānigrodha
cây bàng lớn
sīlasampannaṁ
người đầy đủ giới
anāsava
không còn lậu hoặc (lậu hoặc là những ô nhiễm trong tâm)

Kinh Có Lòng Tin

1.1–1.2—Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này cho thiện nam tử có lòng tin. Thế nào là năm?“Pañcime, bhikkhave, saddhe kulaputte ānisaṁsā. Katame pañca?“Mendicants, a faithful gentleman gets five benefits. What five?

1.3–1.8Các Thiện nhân, các Chân nhân, trước hết có lòng thương tưởng đến vị có lòng tin, không có như vậy đối với vị không có lòng tin; khi đến thăm, trước hết họ đến thăm vị có lòng tin, không có như vậy đối với vị không có lòng tin; khi chấp nhận, họ chấp nhận (các món ăn) trước hết từ những người có lòng tin, không từ những người không có lòng tin; họ thuyết pháp trước hết cho những người có lòng tin, không cho những người không có lòng tin; người có lòng tin, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, cõi Trời. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm lợi ích cho thiện nam tử có lòng tin.Ye te, bhikkhave, loke santo sappurisā te saddhaññeva paṭhamaṁ anukampantā anukampanti, no tathā assaddhaṁ; saddhaññeva paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkamanti, no tathā assaddhaṁ; saddhaññeva paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇhanti, no tathā assaddhaṁ; saddhaññeva paṭhamaṁ dhammaṁ desentā desenti, no tathā assaddhaṁ; saddho kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Ime kho, bhikkhave, pañca saddhe kulaputte ānisaṁsā.The true persons in the world show sympathy first to the faithful, not so much to the unfaithful. They first approach the faithful, not so much the unfaithful. They first receive alms from the faithful, not so much the unfaithful. They first teach Dhamma to the faithful, not so much the unfaithful. When their body breaks up, after death, the faithful are reborn in a good place, a heavenly realm. A faithful gentleman gets these five benefits.

2.1–2.2Ví như, này các Tỷ-kheo, trên khoảnh đất tốt, tại ngã tư đường, có cây bàng to lớn là chỗ nương tựa cho các loài chim chung quanh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử có lòng tin là chỗ nương tựa cho quần chúng, cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cho nam cư sĩ và cho nữ cư sĩ.Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṁ catumahāpathe mahānigrodho samantā pakkhīnaṁ paṭisaraṇaṁ hoti; evamevaṁ kho, bhikkhave, saddho kulaputto bahuno janassa paṭisaraṇaṁ hoti bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānanti.Suppose there was a great banyan tree at a level crossroads. It would become a refuge for birds from all around. In the same way, a faithful gentleman becomes a refuge for many people—monks, nuns, laywomen, and laymen.

3.1–7.4Như cây bàng to lớn, Với cành, lá, trái cây, Với thân, rễ, đầy trái, Làm chỗ trú loài chim. Tại trú xứ thoải mái, Các con chim làm tổ, Cần bóng mát, hứng mát, Cần trái cây, ăn trái. Cũng vậy, vị trì giới, Người có lòng tịnh tín, Khiêm nhường và nhu thuận, Hiền hòa, lời từ tốn, Tánh tình thật dịu hiền, Vị đoạn tham, đoạn sân, Đoạn si, không lậu hoặc, Là ruộng phước ở đời. Họ đến người như vậy, Họ thuyết pháp, người ấy Đoạn trừ mọi khổ đau, Vị ấy ở tại đây, Hiểu biết Chánh pháp ấy, Viên bản nhập Niết-bàn, Hoàn toàn không lậu hoặc.Sākhāpattaphalūpeto, khandhimāva mahādumo; Mūlavā phalasampanno, patiṭṭhā hoti pakkhinaṁ. Manorame āyatane, sevanti naṁ vihaṅgamā; Chāyaṁ chāyatthikā yanti, phalatthā phalabhojino. Tatheva sīlasampannaṁ, saddhaṁ purisapuggalaṁ; Nivātavuttiṁ atthaddhaṁ, sorataṁ sakhilaṁ muduṁ. Vītarāgā vītadosā, vītamohā anāsavā; Puññakkhettāni lokasmiṁ, sevanti tādisaṁ naraṁ. Te tassa dhammaṁ desenti, Sabbadukkhāpanūdanaṁ; Yaṁ so dhammaṁ idhaññāya, Parinibbāti anāsavo”ti.With its branches, leaves, and fruit, a great tree with its strong trunk, firmly-rooted and fruit-bearing, supports many birds. It’s a lovely place, frequented by the sky-soarers. Those that need shade go in the shade, those that need fruit enjoy the fruit. So too, a faithful individual is perfect in ethics, placid in manner and amenable, gentle, courteous, and tender. Those free of greed, freed of hate, free of delusion, undefiled, fields of merit for the world, associate with such a person. They teach them the Dhamma, that casts aside all suffering. Having understood this teaching, the undefiled one is fully extinguished.”

7.5Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.

These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/

Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Aṭṭhamaṁ.

Giải nghĩa ngắn

Kinh mở đầu bằng việc nêu năm lợi ích cho thiện nam tử có lòng tin. Theo nội dung kinh, các bậc thiện nhân, các chân nhân, thương tưởng đến vị có lòng tin trước hết, đến thăm vị ấy trước hết, nhận các món ăn từ vị ấy trước hết, và thuyết pháp cho vị ấy trước hết. Kinh cũng nêu người có lòng tin, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, cõi Trời. Người viết chỉ nêu điều kinh nói, không hứa thêm kết quả cụ thể nào ngoài lời kinh.

Hình ảnh cây bàng lớn là điểm chính của đoạn kinh này. Cây đứng trên khoảnh đất tốt tại ngã tư đường, cành lá và trái sum suê, làm chỗ trú cho các loài chim chung quanh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh này cho thấy lòng tin không chỉ lợi cho riêng người có lòng tin, mà còn là chỗ nương cho nhiều người khác tìm đến.

Ví dụ của người viết (không phải lời kinh): chị Lan có lòng tin vào Tam Bảo, giữ nếp sống đều đặn, đi chùa đúng giờ và giúp đỡ người chung quanh bằng việc nhỏ. Nhiều người trong xóm tìm đến chị khi cần lời khuyên, vì chị giữ nếp sống ấy ổn định. Ví dụ này chỉ giúp bạn hình dung một người làm chỗ nương tựa.

Phần kệ cuối kinh, theo bản Minh Châu, nói về người trì giới và có lòng tịnh tín, khiêm nhường và nhu thuận, hiền hòa và lời từ tốn, rồi nói vị ấy đoạn tham, đoạn sân, đoạn si, không còn lậu hoặc, là ruộng phước ở đời. Pāli và bản Anh cho thấy những vị đã đoạn tham, đoạn sân, đoạn si ấy là người đến thuyết pháp cho người có lòng tin; người có lòng tin hiểu pháp rồi viên tịch không lậu hoặc. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, phần này nối lòng tin với đời sống giữ giới và nghe pháp, chứ không đặt lòng tin đứng riêng lẻ.

Thiện nam tử có lòng tin là chỗ nương tựa cho nhiều người, theo Kinh Có Lòng Tin.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 5.38 (Saddha Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 5.38 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp