Phật tử là gì? Thế nào mới gọi là Phật tử theo lời Đức Phật
Câu hỏi Phật tử là gì có câu trả lời ngắn trong Kinh Mahānāma: người quy y Tam Bảo thì là cư sĩ, và người giữ năm giới thì là cư sĩ có giới.
Quy y Tam Bảo thì là cư sĩ
Câu hỏi Phật tử là gì có một câu trả lời ngắn gọn trong Kinh Mahānāma, một bài kinh thuộc Tăng Chi Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh ghi lại lời Đức Phật dạy cho ông Mahānāma, một người cư sĩ tại gia:
“—Này Mahànàma, khi nào quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, cho đến như vậy, này Mahànàma, là người nam cư sĩ.” (AN 8.25:1.4–1.5; Pāli: Yato kho, mahānāma, buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti; ettāvatā kho, mahānāma, upāsako hotīti)
Chữ Pāli cho người nam cư sĩ là upāsaka, nghĩa gốc là người thân cận. Chữ Pāli cho nương tựa là saraṇa, sự quay về nương tựa, tìm chỗ dựa vững chắc. Theo cách hiểu thông thường của Nam truyền, quy y Phật là nương tựa nơi Đức Phật, bậc đã giác ngộ; quy y Pháp là nương tựa nơi lời dạy của Đức Phật; quy y Tăng là nương tựa nơi cộng đồng các vị xuất gia giữ gìn và thực hành lời dạy ấy. Như vậy, bài dùng chữ "Phật tử tại gia" với nghĩa upāsaka theo kinh, tức người đã quy y Tam Bảo.
Giữ năm giới thì là cư sĩ có giới
Kinh trả lời hai câu hỏi liên tiếp: thế nào là cư sĩ, và thế nào là cư sĩ có giới. Kinh Mahānāma dạy tiếp:
“—Này, Mahànàma, khi nào người nam cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, cho đến như vậy, là người nam cư sĩ giữ giới.” (AN 8.25:2.2–2.3; Pāli: Yato kho, mahānāma, upāsako pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti; ettāvatā kho, mahānāma, upāsako sīlavā hotīti)
Năm giới là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo và từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Người cư sĩ giữ được năm điều này thì được gọi là cư sĩ có giới, tức cư sĩ có giới hạnh. Theo cách đọc của người viết, hai bước này tạo thành một khung rõ ràng: quy y để xác định chỗ nương tựa, giữ giới để đời sống đi đúng với chỗ nương tựa ấy. Người đã quy y nhưng chưa giữ trọn năm giới vẫn là cư sĩ, chỉ chưa phải là cư sĩ có giới theo nghĩa đầy đủ của kinh.
Trang Ngũ giới là gì giải thích kỹ từng giới, và trang Tam Bảo là gì giải thích kỹ ý nghĩa của quy y.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người đi làm mới biết đến đạo Phật, đã quy y Tam Bảo nhưng chưa giữ được giới thứ năm. Theo hai đoạn kinh trên, người ấy vẫn là cư sĩ, chỉ chưa phải là cư sĩ có giới.
Những điều kinh không đặt thêm
Bài viết xin nói rõ những điều kinh này không đặt thêm trong hai câu hỏi về cư sĩ và cư sĩ có giới, vì người mới tìm hiểu thường tự thêm điều kiện cho bản thân rồi sinh lo lắng. Kinh không nói phải ăn chay mới được gọi là Phật tử. Kinh không nói phải có lễ quy y ở một chùa nào cụ thể. Kinh không nói phải tụng thuộc lòng bao nhiêu bài kinh. Những việc ấy có thể tốt, nhưng không phải là điều kiện để thành cư sĩ theo hai đoạn kinh này.
Một điểm nữa cần nói rõ: kinh này nói về nam cư sĩ. Nữ cư sĩ theo cùng khuôn, quy y Tam Bảo và giữ năm giới, nhưng kinh này không nêu riêng về nữ cư sĩ, nên bài viết ghi rõ như vậy để bạn đọc không nhầm rằng kinh chỉ dành cho nam giới. Trang Quy y Tam Bảo cần làm gì hướng dẫn thêm về trước, trong và sau ngày quy y, và trang Phật tử tại gia sống thế nào nói về đời sống hằng ngày của người cư sĩ.
Đọc thêm để bắt đầu đúng
Bạn đọc mới bắt đầu có thể đọc thêm trang Tam quy và năm giới bằng tiếng Pāli để biết cách đọc theo và nghĩa từng chữ. Khi đã hiểu rõ quy y và năm giới, bạn đọc sẽ thấy con đường của người Phật tử tại gia bắt đầu từ một quyết định giản dị: nương tựa nơi Tam Bảo và giữ gìn đời sống không gây hại cho bản thân và người khác.
Hỏi nhanh
Phật tử là gì?
Người đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng thì được gọi là người nam cư sĩ, tức Phật tử tại gia theo nghĩa upāsaka của kinh (AN 8.25, đoạn 1.4–1.5).
Chưa giữ trọn năm giới thì có phải là Phật tử không?
Vẫn là cư sĩ, vì quy y Tam Bảo thì đã là cư sĩ. Giữ năm giới thì là cư sĩ có giới, một bước đầy đủ hơn.
Nữ cư sĩ có khác nam cư sĩ không?
Kinh này nói về nam cư sĩ, nhưng nữ cư sĩ theo cùng khuôn là quy y Tam Bảo và giữ năm giới. Kinh này không nêu riêng về nữ cư sĩ.
Câu chốt: Quy y Tam Bảo thì là cư sĩ, giữ năm giới thì là cư sĩ có giới, theo hai đoạn kinh trích ở trên.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 8.25, Kinh Mahānāma (Mahānāma Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 8.25 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 8.25 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn.