Phật Thuyết Như Vậy 31 · Iti 31

Kinh Điều Không Gây Hối Tiếc

Atapanīya Sutta

Kinh Điều Không Gây Hối Tiếc nói về hai pháp không làm cho một người bị nung nấu: không làm ác hạnh và làm nhiều điều thiện, nhờ đó người ấy không bị hối tiếc nung nấu.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người làm điều lành, làm điều thiện, che chở người sợ hãi, không làm điều ác thì không bị nung nấu.
  • Người ấy không bị nung nấu vì nghĩ rằng bản thân đã làm điều lành và đã không làm điều ác.
  • Người từ bỏ thân, khẩu, ý ác hạnh và làm nhiều điều thiện thì sau thân hoại mạng chung, với thiện trí tuệ, được sanh lên cõi trời.

Kinh Điều Không Gây Hối Tiếc thuộc Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và nêu hai pháp không gây nung nấu. Kinh mở đầu bằng lời kể lại điều Thế Tôn đã nói, rồi mô tả người không bị nung nấu, và kết bằng bài kệ nói về việc từ bỏ ác hạnh, làm nhiều điều thiện và quả sanh lên cõi trời.

Cấu trúc của kinh đi từ văn xuôi sang kệ. Phần văn xuôi ở đoạn 1.1 đến 2.7 nêu hai pháp không gây nung nấu và hai ý nghĩ không làm cho người ấy bị nung nấu. Phần kệ ở đoạn 3.1 đến 4.4 liệt kê việc từ bỏ thân, khẩu, ý ác hạnh, cùng với việc không làm nghiệp ác và làm nhiều điều thiện, rồi nói về quả sau khi thân hoại mạng chung.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, trạng thái không bị nung nấu ở đây gắn với việc nhớ lại những điều lành đã làm và những điều ác đã tránh, nên trí nhớ trở thành chỗ yên thay vì trở thành ngọn lửa.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
atapanīya
không gây nung nấu
kalyāṇa
lành, tốt đẹp
kusala
thiện, khéo léo trong điều thiện
sagga
cõi trời, cảnh giới chư Thiên
sappañña
người có trí tuệ thiện lành
kāya
thân
vacī
lời nói
mano
ý
kamma
nghiệp, hành động có tác ý
bhīruttāṇa
che chở người sợ hãi

Kinh Điều Không Gây Hối Tiếc

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có hai pháp không làm cho nung nấu. Thế nào là hai? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm điều lành, làm điều thiện, che chở người sợ hãi, không làm điều ác, không ngoan cố trong việc làm, làm điều thiện. Người ấy không bị nung nấu vì nghĩ rằng: “Ta đã làm điều lành”, không bị nung nấu vì nghĩ rằng: “Ta không làm điều ác”. Này các Tỷ-kheo, hai pháp này không làm cho nung nấu.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Dveme, bhikkhave, dhammā atapanīyā. Katame dve? Idha, bhikkhave, ekacco katakalyāṇo hoti, katakusalo, katabhīruttāṇo, akatapāpo, akataluddo, akatakibbiso. So ‘kataṁ me kalyāṇan’tipi na tappati, ‘akataṁ me pāpan’tipi na tappati. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā atapanīyā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “These two things, mendicants, are not mortifying. What two? It’s when someone has done good and skillful things that keep them safe, but has not done bad things, violence and sin. Thinking, ‘I have done good things’, they’re not mortified. Thinking, ‘I haven’t done bad things’, they’re not mortified. These are the two things that are not mortifying.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Từ bỏ thân làm ác,
Hay nói các lời ác,
Từ bỏ ý ác hành,
Hay bất cứ gì khác
Có liên hệ lỗi lầm.
Không làm các nghiệp ác,
Làm nhiều điều thiện sự,
Khi thân hoại mạng chung,
Người có thiện trí tuệ,
Được sanh lên cõi trời.
“Kāyaduccaritaṁ hitvā,
vacīduccaritāni ca;
Manoduccaritaṁ hitvā,
yañcaññaṁ dosasañhitaṁ.
Akatvākusalaṁ kammaṁ,
katvāna kusalaṁ bahuṁ;
Kāyassa bhedā sappañño,
saggaṁ so upapajjatī”ti.
“Having given up bad conduct by way of body, speech, and mind, and whatever else is corrupt; not having done bad deeds, and having done many good, when their body breaks up, that wise person is reborn in heaven.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Catutthaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh nêu hai mặt của cùng một đời sống: làm điều lành và không làm điều ác. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, che chở người sợ hãi được nêu riêng bên cạnh việc làm lành, cho thấy việc lành ở đây không chỉ là việc tốt chung chung mà còn là sự bảo vệ cụ thể cho người đang yếu thế.

Người ấy không bị nung nấu bởi hai ý nghĩ: bản thân đã làm điều lành và bản thân đã không làm điều ác. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, trí nhớ trong trường hợp này trở thành chỗ nương tựa thay vì trở thành ngọn lửa, vì những gì được nhớ lại đều là việc lành và việc ác đã được tránh.

Bài kệ mở rộng điều dạy sang thân, khẩu và ý. Từ bỏ thân ác hạnh, từ bỏ lời ác, từ bỏ ý ác hạnh, hay bất cứ điều gì có liên hệ với lỗi lầm, cùng với việc không làm nghiệp ác và làm nhiều điều thiện, đều dẫn về cùng một quả. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chữ từ bỏ ở đây quan trọng vì nó nói về một quyết định dừng lại, chứ không phải chỉ là sự chưa có dịp làm ác.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải có lần dừng xe giúp một người bị ngã xe giữa đường dù đang vội đi làm, tối về chú nhớ lại việc ấy và thấy lòng nhẹ nhàng, khác hẳn những hôm chú bỏ qua rồi cứ áy náy mãi.

Bài kệ kết bằng quả sau khi thân hoại mạng chung. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, quả ấy là sự tiếp nối tự nhiên của một đời sống đã quen với việc lành, giống như một người quen đi trên đường thẳng thì khi nhắm mắt lại vẫn không lạc sang đường khác.

Làm điều lành và không làm điều ác thì không bị nung nấu.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 31 (Atapanīya Sutta, Itivuttaka 31). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 31 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp