Kinh Dơ Bẩn Bên Trong
Antarāmala Sutta
Kinh Dơ Bẩn Bên Trong gọi tham, sân và si là ba thứ dơ bẩn bên trong, vì chúng sanh ra từ bên trong và làm tâm dao động, mù lòa và tối tăm.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Tham là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân và nội thù địch, sanh ra bất hạnh và sợ hãi từ bên trong.
- Sân là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân và nội thù địch, sanh ra bất hạnh và sợ hãi từ bên trong.
- Si là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân và nội thù địch, sanh ra bất hạnh và sợ hãi từ bên trong.
Kinh Dơ Bẩn Bên Trong thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 88. Bài kinh mở đầu bằng việc nêu ba nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân và nội thù địch, rồi lần lượt gọi tên từng thứ, đó là tham, sân và si. Chữ lobho nghĩa là tham, chữ doso nghĩa là sân, chữ moho nghĩa là si. Phần kệ cuối kinh dài và có cấu trúc lặp lại, mỗi phần nói về một thứ, từ tác hại của nó đến việc đoạn trừ nó.
Phần kệ nói người có tham, có sân hay có si đều không biết rõ đâu là lợi ích và không thấy được đâu là Chánh pháp, đồng thời mù lòa và tối tăm xuất hiện nơi người ấy. Sau mỗi phần, kinh nêu hình ảnh đoạn trừ, gồm tham đoạn trừ như giọt nước trên lá sen, sân đoạn trừ như quả cây ta-la bị chặt đứt khỏi cành, và si được quét sạch như mặt trời mọc lên quét sạch mọi tăm tối.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- lobho
- tham
- doso
- sân
- moho
- si
- antarāmalo
- nội uế
- antarāamitto
- nội thù
- antarāsapatto
- nội đối thủ
- antarāvadhako
- nội sát nhân
- antarāpaccatthiko
- nội thù địch
Kinh Dơ Bẩn Bên Trong
1Này các Tỷ-kheo, có ba nội uế, nội thù này, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch này. Thế nào là ba?
Tham, này các Tỷ-kheo, là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát thủ, nội sát nhân, nội thù địch. Sân, này các Tỷ-kheo, là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch. Si, này các Tỷ-kheo, là nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch. Này các Tỷ-kheo, có ba nội uế, nội thù, nội đối thủ, nội sát nhân, nội thù địch này.
Tham sanh ra bất hạnh,
Tham làm tâm dao động,
Tham chính là sợ hãi,
Sanh ra từ bên trong,
Loài Người không rõ biết
Loại tham đặc biệt ấy.
Người tham không biết rõ
Đâu chính là lợi ích,
Người tham không thấy được
Đâu chính là Chánh pháp.
Mù lòa và tối tăm,
Sẽ xuất hiện, có mặt,
Ở nơi một người nào,
Có tham cùng chung sống.
Ai đoạn trừ được tham,
Không tham vật đáng tham,
Với ai tham đoạn trừ
Như giọt nước lá sen.
Sân sanh ra bất hạnh,
Sân làm tâm dao động.
Sân chính là sợ hãi,
Sanh ra từ bên trong
Loài Người không rõ biết,
Lòng sân đặc biệt ấy.
Người sân không biết rõ
Đâu chính là lợi ích,
Người sân không thấy được
Đâu chính là Chánh pháp,
Mù lòa và tối tăm,
Sẽ xuất hiện, có mặt,
Ở nơi sân người nào,
Có sân cùng chung sống.
Ai đoạn trừ được sân,
Không sân việc đáng sân,
Với ai, sân đoạn trừ,
Như quả cây ta-la
Được chặt đứt khỏi cành.
Si sanh ra bất hạnh,
Si làm tâm dao động,
Si chính là sợ hãi,
Sanh ra từ bên trong,
Loài Người không rõ biết
Lòng si đặc biệt ấy
Người si không rõ biết
Đâu chính là lợi ích,
Người si không thấy được
Đâu chính là Chánh pháp,
Mù lòa và tối tăm
Sẽ xuất hiện, có mặt,
Ở nơi một người nào,
Có si cùng chung sống.
Ai đoạn trừ được si,
Không si việc đáng si,
Vị ấy quét sạch được
Tất cả mọi si ám,
Như mặt trời mọc lên,
Quét sạch mọi tăm tối.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tayome, bhikkhave, antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā. Katame tayo? Lobho, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Doso, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Moho, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Ime kho, bhikkhave, tayo antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Anatthajanano lobho, lobho cittappakopano; Bhayamantarato jātaṁ, taṁ jano nāvabujjhati. Luddho atthaṁ na jānāti, luddho dhammaṁ na passati; Andhatamaṁ tadā hoti, yaṁ lobho sahate naraṁ. Yo ca lobhaṁ pahantvāna, lobhaneyye na lubbhati; Lobho pahīyate tamhā, udabindūva pokkharā. Anatthajanano doso, doso cittappakopano; Bhayamantarato jātaṁ, taṁ jano nāvabujjhati. Duṭṭho atthaṁ na jānāti, duṭṭho dhammaṁ na passati; Andhatamaṁ tadā hoti, yaṁ doso sahate naraṁ. Yo ca dosaṁ pahantvāna, dosaneyye na dussati; Doso pahīyate tamhā, tālapakkaṁva bandhanā. Anatthajanano moho, moho cittappakopano; Bhayamantarato jātaṁ, taṁ jano nāvabujjhati. Mūḷho atthaṁ na jānāti, mūḷho dhammaṁ na passati; Andhatamaṁ tadā hoti, yaṁ moho sahate naraṁ. Yo ca mohaṁ pahantvāna, mohaneyye na muyhati; Mohaṁ vihanti so sabbaṁ, ādiccovudayaṁ taman”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Navamaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three inner stains, inner foes, inner enemies, inner killers, and inner adversaries. What three? Greed, hate, and delusion. These three are inner stains, inner foes, inner enemies, inner killers, and inner adversaries.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “Greed creates harm; greed upsets the mind. That person doesn’t recognize the danger that arises within. A greedy person doesn’t know the good. A greedy person doesn’t see the truth. When a person is beset by greed, only blind darkness is left. Those who have given up greed, don’t get greedy even when provoked. Greed falls off them like a drop from a lotus-leaf. Hate creates harm; hate upsets the mind. That person doesn’t recognize the danger that arises within. A hateful person doesn’t know the good. A hateful person doesn’t see the truth. When a person is beset by hate, only blind darkness is left. Those who have given up hate, don’t get angry even when provoked. Hate falls off them like a ripe palmyra fruit from its stem. Delusion creates harm; delusion upsets the mind. That person doesn’t recognize the danger that arises within. A deluded person doesn’t know the good. A deluded person doesn’t see the truth. When a person is beset by delusion, only blind darkness is left. Those who have given up delusion, don’t get deluded even when provoked. They banish all delusion, as the rising sun the dark.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Điểm chính của Kinh Dơ Bẩn Bên Trong nằm ở chữ nội, vì tham, sân và si không được xem là kẻ thù từ bên ngoài đến, mà là những thứ sanh ra từ bên trong và chung sống với người ấy. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cách gọi này nhắc người đọc quay lại quan sát chính tâm của người ấy, thay vì chỉ tìm nguyên nhân bất hạnh ở hoàn cảnh bên ngoài.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người vì tham muốn thăng tiến mà nói dối trong công việc, rồi chính lời nói dối ấy khiến tâm người ấy lo lắng và dao động suốt nhiều ngày, dù không ai bên ngoài làm hại người ấy. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung nội thù trong đời thường (không phải lời kinh).
Kinh nói người có tham, có sân hay có si đều không biết rõ đâu là lợi ích và không thấy được đâu là Chánh pháp. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, sự không biết này không phải là thiếu thông tin, mà là tâm bị che lấp nên không còn phân biệt được điều nên làm và điều không nên làm, dù điều ấy vốn đã được nghe qua.
Phần kệ cuối kinh nêu việc đoạn trừ từng thứ bằng ba hình ảnh khác nhau, từ giọt nước rời lá sen, quả bị chặt khỏi cành, đến mặt trời quét sạch tăm tối. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, ba hình ảnh ấy đều nói về một sự dứt khoát, khi tham, sân hay si đã đoạn trừ thì không còn dính mắc trở lại như trước.
Tham, sân và si là ba nội uế sanh ra từ bên trong, làm tâm dao động và che lấp cái thấy về lợi ích và Chánh pháp.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 88 (Antarāmala Sutta, Itivuttaka 88). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 88 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.