Kinh Đoạn Tận Lậu Hoặc
Āsavakkhaya Sutta
Kinh Đoạn Tận Lậu Hoặc nói rằng lậu hoặc chỉ đoạn tận nơi người biết và thấy rõ bốn sự thật về khổ, không phải nơi người không biết, không thấy.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Lậu hoặc đoạn tận nơi người biết và thấy rõ bốn sự thật về khổ.
- Người hữu học hành trì con đường chánh trực thì trí thứ nhất sanh, rồi chánh trí vô thượng sanh.
- Kẻ biếng nhác và người ngu không biết thì không chứng được Niết-bàn, sự giải thoát khỏi mọi trói buộc.
Kinh Đoạn Tận Lậu Hoặc, Iti 102, thuộc bộ kinh Phật Thuyết Như Vậy, tức tập kinh nhỏ trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Kinh ghi lời dạy của đức Thế Tôn cho các vị Tỷ-kheo, tức các vị tu sĩ đã xuất gia theo Phật, về điều kiện để lậu hoặc đoạn tận. Toàn bài kinh là một khối liền, gồm phần lời dạy bằng văn xuôi và phần kệ tóm ý ở cuối. Ý chính của kinh rất gọn: sự diệt tận lậu hoặc chỉ xảy ra nơi người biết và thấy rõ bốn sự thật về khổ, gồm khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt. Phần kệ nhắc lại con đường của người hữu học, tức người còn đang học tập trên đường tu, từ trí thứ nhất đến chánh trí vô thượng rồi đến trí giải thoát.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- āsava
- lậu hoặc, ô nhiễm rỉ chảy trong tâm
- dukkha
- khổ
- dukkhasamudaya
- khổ tập, nguyên nhân sanh khổ
- dukkhanirodha
- khổ diệt, sự đoạn tận khổ
- dukkhanirodhagāminī paṭipadā
- con đường đưa đến khổ diệt
- sekha
- người hữu học, người còn đang học tập
- aññā
- chánh trí, trí biết rõ rốt ráo
- vimutti
- giải thoát
- saṁyojana
- kiết sử, trói buộc
- nibbāna
- Niết-bàn, sự tịch diệt
Kinh Đoạn Tận Lậu Hoặc
1Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, cho người biết gì, cho người thấy gì là sự diệt tận các lậu hoặc?
Này các Tỷ-kheo, cho người biết, cho người thấy rằng: “Đây là Khổ “, là sự diệt tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, cho người biết, cho người thấy rằng: “Đây là Khổ tập “, là sự diệt tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, cho người biết, cho người thấy rằng: “Đây là khổ diệt ” Là sự diệt tận các lậu hoặc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cho người biết, cho người thấy, “Đây là Con đường đưa đến khổ diệt “. là sự diệt tận các lậu hoặc. Như vậy này các Tỷ Kheo cho người biết cho người thấy là sự diệt tận các lậu hoặc.
Vị hữu học học tập,
Hành trì đường chánh trực,
Trong diệt tận ác pháp,
Là trí bậc thứ nhất,
Tiếp đến là chánh trí,
Chánh trí này vô thượng,
Tiếp theo chánh trí ấy,
Chính là sự giải thoát,
Giải thoát trí vô thượng,
Trong diệt tận, trí khôn,
Với các loại, kiết sử,
Được đoạn tận ở đây,
Không phải kẻ biếng nhác,
Kẻ ngu, không biết gì,
Có thể chứng ngộ được
Niết-bàn vô thượng này,
Sự giải thoát hoàn toàn,
Tất cả mọi trói buộc.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Jānatohaṁ, bhikkhave, passato āsavānaṁ khayaṁ vadāmi, no ajānato no apassato. Kiñca, bhikkhave, jānato, kiṁ passato āsavānaṁ khayo hoti? Idaṁ dukkhanti, bhikkhave, jānato passato āsavānaṁ khayo hoti. Ayaṁ dukkhasamudayoti, bhikkhave, jānato passato āsavānaṁ khayo hoti. Ayaṁ dukkhanirodhoti, bhikkhave, jānato passato āsavānaṁ khayo hoti. Ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti, bhikkhave, jānato passato āsavānaṁ khayo hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato āsavānaṁ khayo hotī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Sekhassa sikkhamānassa, ujumaggānusārino; Khayasmiṁ paṭhamaṁ ñāṇaṁ, tato aññā anantarā. Tato aññāvimuttassa, vimuttiñāṇamuttamaṁ; Uppajjati khaye ñāṇaṁ, khīṇā saṁyojanā iti. Na tvevidaṁ kusītena, bālenamavijānatā; Nibbānaṁ adhigantabbaṁ, sabbaganthappamocanan”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Tatiyaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, I say that the ending of defilements is for one who knows and sees, not for one who does not know or see. For one who knows and sees what? The ending of defilements is for one who knows and sees suffering, its origin, its cessation, and the path. The ending of the defilements is for one who knows and sees this.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “As a trainee trains, following the straight road, first they know about ending; enlightenment follows in the same lifetime. Then to one freed through enlightenment the knowledge of ending arises, the supreme knowledge of freedom, with the ending of the fetters. Not by the lazy, or by fools who don’t understand may this be realized—extinguishment, the release from all ties.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh mở đầu bằng một điều kiện rõ ràng: sự diệt tận lậu hoặc chỉ được nói đến nơi người biết và thấy, không phải nơi người không biết, không thấy. Điều này cho thấy việc đoạn tận không đến từ mong muốn suông mà từ sự thấy rõ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chữ biết ở đây là biết đúng sự thật, còn chữ thấy là thấy bằng trí, không phải chỉ nghe người khác nói lại.
Bốn sự thật mà kinh nêu là khổ, nguyên nhân sanh khổ, sự đoạn tận khổ và con đường đưa đến khổ diệt. Khi bốn sự thật này được biết rõ, lậu hoặc mới đoạn tận. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thứ tự này cho thấy con đường tu tập bắt đầu từ việc nhận diện khổ, không phải từ việc tránh né khổ.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chị Lan thường bực bội mỗi khi con nhỏ làm vỡ đồ trong nhà, và chị cho rằng cơn bực đến từ chiếc chén vỡ. Một hôm chị để ý rằng cơn bực vẫn còn ngay cả khi chị đã dọn sạch mảnh vỡ, nên chị nhận ra nguyên nhân nằm ở tâm dính mắc của chính chị, không phải ở chiếc chén (không phải lời kinh).
Phần kệ nói người hữu học hành trì con đường chánh trực thì trí thứ nhất sanh, rồi chánh trí vô thượng sanh, rồi trí giải thoát sanh, cùng lúc các kiết sử được đoạn tận. Kệ cũng nói rõ kẻ biếng nhác và người ngu không biết thì không thể chứng được Niết-bàn. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, đoạn kệ này nhắc người đọc rằng giải thoát đòi hỏi tinh cần và trí, không đến từ sự cầu xin hay chờ đợi.
Biết rõ bốn sự thật về khổ là điều kiện để lậu hoặc đoạn tận và trí giải thoát sanh khởi.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 102 (Āsavakkhaya Sutta, Itivuttaka 102). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 102 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Bốn Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.