Kinh Xuất Ly
Nissaraṇiya Sutta
Kinh Xuất Ly nêu ba lối ra mà người tu tập có thể hướng đến, gồm viễn ly khỏi các dục, vượt khỏi các sắc và đoạn diệt những gì được hiện hữu, được làm ra và được duyên khởi.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Xuất ly khỏi các dục là viễn ly.
- Xuất ly khỏi các sắc là vô sắc.
- Đoạn diệt cái được hiện hữu, được làm ra và được duyên khởi là xuất ly cái ấy.
Kinh Xuất Ly thuộc bộ Kinh Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu Iti 72. Kinh gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và nêu ba xuất ly giới, trong đó chữ nissaraṇaṁ, sự ra khỏi, là từ khóa cho toàn bài. Kinh mở đầu bằng lời ghi nhận về điều đã được nghe, rồi nêu nội dung chính, và kết thúc bằng một bài kệ ngắn về vị Tỷ-kheo thấy chánh và được giải thoát.
Ba xuất ly giới được kinh nêu theo thứ tự là viễn ly khỏi các dục, vô sắc khỏi các sắc, và đoạn diệt cái được hiện hữu, được làm ra, được duyên khởi. Bài kệ cuối kinh nói vị Tỷ-kheo biết xuất ly dục, vượt qua các sắc, tịnh chỉ tất cả hành, luôn nhiệt tâm, thấy chánh và sống an tịnh sau khi đã vượt khỏi các ách.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- nissaraṇaṁ
- sự ra khỏi, sự xuất ly
- nekkhammaṁ
- viễn ly
- āruppaṁ
- vô sắc
- nirodho
- sự đoạn diệt
- bhūtaṁ
- được hiện hữu
- saṅkhataṁ
- được làm ra
- paṭiccasamuppannaṁ
- được duyên khởi
- dhātu
- giới, tức yếu tố, cõi, phạm vi (theo cách giải nghĩa của người viết)
Kinh Xuất Ly
1Điều này được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba xuất ly giới này. Thế nào là ba? Sự xuất ly này khỏi các dục, tức là viễn ly. Sự xuất ly này khỏi các sắc, tức là vô sắc. Sự đoạn diệt cái gì được hiện hữu, được làm ra, được duyên khởi, là sự xuất ly cái ấy. Này các Tỷ-kheo, có ba xuất ly giới này.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tisso imā, bhikkhave, nissaraṇiyā dhātuyo. Katamā tisso? Kāmānametaṁ nissaraṇaṁ yadidaṁ nekkhammaṁ, rūpānametaṁ nissaraṇaṁ yadidaṁ āruppaṁ, yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ nirodho tassa nissaraṇaṁ— imā kho, bhikkhave, tisso nissaraṇiyā dhātuyo”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three elements of escape. What three? Renunciation is the escape from sensual pleasures. Formlessness is the escape from form. Cessation is the escape from whatever is created, conditioned, and dependently originated. These are the three elements of escape.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Biết được xuất ly dục,
Vượt qua được các sắc,
Tịnh chỉ tất cả hành,
Luôn luôn cảm nhiệt tình,
Tỷ-kheo ấy thấy chánh,
Từ đấy, chính ở đây,
Vị ấy được giải thoát,
Thắng trí được viên thành,
Sống nếp sống an tịnh
Vị ấy sống như vậy,
Thật sự là ẩn sĩ,
Đã vượt khỏi các ách.“Kāmanissaraṇaṁ ñatvā,
rūpānañca atikkamaṁ;
Sabbasaṅkhārasamathaṁ,
phusaṁ ātāpi sabbadā.
Sa ve sammaddaso bhikkhu,
yato tattha vimuccati;
Abhiññāvosito santo,
sa ve yogātigo munī”ti.“Knowing the escape from sensuality, and form’s transcendence, one always keen touches the stilling of all activities. That mendicant sees rightly, and when freed in regards to that, that peaceful sage, with perfect insight, has truly slipped their yoke.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Tatiyaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Lối ra thứ nhất là viễn ly khỏi các dục, lối ra thứ hai là vô sắc khỏi các sắc, và lối ra thứ ba là đoạn diệt cái được hiện hữu, được làm ra, được duyên khởi. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, ba lối ra này không phải ba con đường tách rời mà là những mức độ mở rộng dần của cùng một hướng đi, từ việc rời xa dục đến việc đoạn diệt tận gốc những gì có điều kiện.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người làm văn phòng nhận ra buổi chiều thường trôi qua vì những thú vui lướt xem vô định, nên người ấy dành một khoảng lặng để đọc sách và nghỉ ngơi, rồi thấy buổi chiều trôi qua nhẹ nhàng hơn (không phải lời kinh).
Bài kệ cuối kinh mô tả vị Tỷ-kheo biết được xuất ly dục, vượt qua các sắc và tịnh chỉ tất cả các hành, luôn giữ nhiệt tâm và thấy chánh, rồi từ đó được giải thoát, thắng trí viên thành và sống an tịnh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh này cho thấy xuất ly không chỉ là một quyết định trong chốc lát mà là một nếp sống được giữ vững mỗi ngày.
Với bạn đọc hôm nay, viễn ly có thể bắt đầu từ việc nhận ra một ham muốn đang kéo tâm đi và không để ham muốn ấy quyết định hành động tiếp theo. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cách nhìn này giữ xuất ly gần với đời sống hằng ngày, thay vì đặt nó thành một điều xa vời chỉ dành cho người đã rời bỏ mọi sự.
Kinh Xuất Ly nêu ba xuất ly giới là viễn ly khỏi các dục, vô sắc khỏi các sắc và đoạn diệt cái được hiện hữu, được làm ra, được duyên khởi.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 72 (Nissaraṇiya Sutta, Itivuttaka 72). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 72 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.