Kinh Giới Hạnh Nào
Kiṁsīla Sutta
Còn gọi là: Kinh Giới Hạnh Gì, Kinh Tập 2.9
Một câu hỏi rất thật của người tu học: phải sống thế nào, làm gì, để đặt chân cho vững trên con đường? Câu trả lời bắt đầu từ những điều tưởng nhỏ: kính người đi trước và biết lắng nghe.
Trước khi đọc kinh
Kinh Giới Hạnh Nào (Kiṁsīla Sutta) là bài kinh thứ chín trong phẩm Tiểu (Cūḷavagga) của Kinh Tập. Câu hỏi: với giới hạnh nào, nếp sống nào, vun bồi những việc làm nào, một người mới được đặt vững đúng đắn và đạt đến mục đích cao nhất (kệ 1.1–1.4)? Lời kinh không ghi tên người hỏi. Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), đó là Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta). Con trai một người bạn của thân phụ Ngài đã bỏ gia tài lớn để xuất gia theo Ngài và học thuộc lời Phật, nhưng dù được Ngài khuyên dạy nhiều lần và trao đề mục thiền, vị ấy vẫn chưa tiến được. Biết người này hợp với lời dạy của chính Đức Phật, Ngài Xá-lợi-phất dẫn vị ấy đến và hỏi thay, không nêu tên ai. Đức Phật biết Ngài Xá-lợi-phất hỏi vì người học trò, nên trả lời theo điều hợp với vị ấy.
Câu trả lời đi từ ngoài vào trong. Hãy kính trọng bậc trưởng thượng, không ganh tị, biết đúng lúc để đến gặp thầy, quý thời khắc được nghe Pháp và chăm chú lắng nghe (kệ 2.1–2.4). Chú giải nói có bốn hạng trưởng thượng: lớn về trí tuệ, về đức hạnh, về dòng dõi và về tuổi tác; ở đây Đức Phật nói về trí tuệ và đức hạnh, nên dù Ngài Xá-lợi-phất bằng tuổi người học trò, Ngài vẫn là bậc trưởng thượng của vị ấy. Chú giải cũng giải “đúng lúc” rất thực tế: khi tham, sân, si hay lười biếng khởi lên, đó là lúc nên đến gặp thầy; và chớ chặn thầy giữa đường đi khất thực mà hỏi, hãy chờ lúc thầy đã ngồi nghỉ ở chỗ của mình. Đến gần thầy thì bỏ thói cứng cỏi, giữ dáng khiêm cung, ghi nhớ và thực hành điều đã nghe (kệ 3.1–3.4); vui trong Pháp, đứng vững trong Pháp, chớ nói lời làm hoen ố Pháp (kệ 4.1–4.4); bỏ cười cợt, nói chuyện vô ích, than khóc, sân hận, dối trá, tham lam, kiêu mạn (kệ 5.1–5.4). Theo chú giải, với người hành thiền, gặp chuyện đáng cười thì chỉ nên mỉm cười. Hiểu được là cốt lõi của lời khéo nói, định là cốt lõi của điều đã nghe; nơi người hấp tấp và phóng dật, trí tuệ và sự học không tăng trưởng (kệ 6.1–6.4). Chú giải ghi rằng nghe xong, vị Tỷ-kheo chứng quả Nhập lưu, và không lâu sau chứng quả A-la-hán.
Hiểu đúng: “kính trọng bậc trưởng thượng” không có nghĩa là vâng lời mù quáng, cũng không chỉ là kính người lớn tuổi. Điều được kính là trí tuệ và đức hạnh, và chính sự kính trọng ấy mở lòng ta ra để học. Học nhiều mà tâm không định, lại hấp tấp, thì cái học chỉ ở đầu môi (kệ 6.1–6.4). Nhiều điều trong bài kinh gặp lại trong Kinh Điềm Lành (Snp 2.4): kính trọng, khiêm cung, nghe Pháp đúng thời. Người đạt cốt lõi của sự học thì cao tột trong lời nói, ý nghĩ và việc làm (kệ 7.1–7.4). Bạn có thể thử một điều nhỏ trong tuần này: khi nghe một bài giảng hay đọc một trang kinh, hãy tắt điện thoại, nghe cho trọn, rồi chọn một câu để làm theo ngay trong ngày.
Ý chính
- Kính trọng bậc trưởng thượng, không ganh tị, biết đúng lúc để đến gặp thầy (2.1–2.2).
- Quý thời khắc được nghe Pháp và chăm chú lắng nghe những lời khéo nói (2.3–2.4).
- Bỏ thói cứng cỏi, giữ dáng khiêm cung, ghi nhớ và thực hành điều đã học (3.1–3.4).
- Chớ nói lời làm hoen ố Pháp; để những lời khéo nói chân thật dẫn dắt mình (4.3–4.4).
- Hiểu được là cốt lõi của lời khéo nói, định là cốt lõi của điều đã nghe (6.1–6.2).
- Nơi người hấp tấp và phóng dật, trí tuệ và sự học không tăng trưởng (6.3–6.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- sīla
- giới, giới hạnh
- samācāra
- nếp sống, cách cư xử
- vuḍḍhāpacāyī
- người kính trọng bậc trưởng thượng
- kālaññū
- người biết đúng lúc
- thambha
- sự cứng cỏi, ngoan cố do kiêu mạn
- nivātavutti
- khiêm cung; nghĩa đen là cư xử như nơi lặng gió
- subhāsita
- lời khéo nói
- sāra
- cốt lõi, như lõi của thân cây
Kinh Giới Hạnh Nào
1Thế nào là giới đức?
Thế nào là chánh hạnh?
Cần phải làm tăng trưởng.
Thân khẩu ý nghiệp nào?
Để người chánh nhập cuộc,
Đạt được đích tối thượng?“Kiṁsīlo kiṁsamācāro, kāni kammāni brūhayaṁ; Naro sammā niviṭṭhassa, uttamatthañca pāpuṇe”.“With what morality, what conduct, fostering what deeds, would a person lay the foundations right, and reach the highest goal?”
2Kính lễ bậc trưởng thượng,
Không ganh tị một ai,
Cần phải biết thời gian,
Để yết kiến Đạo sư,
Biết được đúng thời khắc,
Thuyết pháp bắt đầu giảng,
Hãy cẩn thận lắng nghe,
Lời giảng được khéo nói.“Vuḍḍhāpacāyī anusūyako siyā, Kālaññū cassa garūnaṁ dassanāya; Dhammiṁ kathaṁ erayitaṁ khaṇaññū, Suṇeyya sakkacca subhāsitāni.“Honoring elders without jealousy, they’d know the time to visit their respected teachers. Treasuring the chance for a Dhamma talk, they’d listen carefully to the well-spoken words.
3Hãy đi đến đúng thời,
Trước mặt vị Đạo Sư,
Từ bỏ tánh cứng đầu,
Với thái độ khiêm tốn,
Hãy nhớ nghĩ ức niệm,
Hãy chơn chánh hành trì,
Mục đích và Chánh pháp,
Chế ngự và Phạm hạnhKālena gacche garūnaṁ sakāsaṁ, Thambhaṁ niraṅkatvā nivātavutti; Atthaṁ dhammaṁ saṁyamaṁ brahmacariyaṁ, Anussare ceva samācare ca.At the right time, they’d enter the vicinity of their respected teachers in placid manner, leaving obstinacy behind. They’d call to mind and put into practice the meaning, the teaching, self-control, and the spiritual life.
4Vui thích trong Chánh Pháp
Hoan hỷ trong Chánh Pháp,
An trú trên Chánh pháp,
Biết phân tích Chánh pháp,
Sở hành không làm gì,
Có lời uế nhiễm pháp,
Chịu hướng dẫn lãnh đạo,
Lời trung thực khéo nói.Dhammārāmo dhammarato, Dhamme ṭhito dhammavinicchayaññū; Nevācare dhammasandosavādaṁ, Tacchehi nīyetha subhāsitehi.Delighting in the teaching, enjoying the teaching, standing on the teaching, evaluating the teaching, they’d never say anything that degraded the teaching, but would be guided by genuine words well-spoken.
5Bỏ cười đùa, lắm miệng,
Khóc than và sân hận,
Làm những điều man trá,
Lừa đảo, tham, kiêu mạn,
Bồng bột và bạo ngôn,
Cứng rắn và đam mê,
Sống từ bỏ tất cả,
Ly say đắm, kiên trì.Hassaṁ jappaṁ paridevaṁ padosaṁ, Māyākataṁ kuhanaṁ giddhi mānaṁ; Sārambhaṁ kakkasaṁ kasāvañca mucchaṁ, Hitvā care vītamado ṭhitatto.Giving up mirth, muttered prayer, weeping, ill will, deceit, fawning, greed, conceit, aggression, crudeness, stains, and indulgence, they’d wander free of vanity, steadfast.
6Thức tri được cốt lõi,
Những lời đươc khéo nói,
Đươc nghe khéo thức tri,
Cốt lõi của thiền định,
Với con người hấp tấp,
Lại phóng dật buông lung,
Trí tuệ, đều được nghe,
Không có thể tăng trưởng.Viññātasārāni subhāsitāni, Sutañca viññātasamādhisāraṁ; Na tassa paññā ca sutañca vaḍḍhati, Yo sāhaso hoti naro pamatto.Understanding is the essence of well-spoken words, stillness is the essence of learning and understanding. Wisdom and learning do not flourish in a hasty and negligent person.
7An vui thích Chánh pháp,
Do bậc Thánh tuyên thuyết,
Họ trở thành vô thượng,
Về lời ý và nghiệp,
Họ an tịnh nhu hòa,
An trú trên thiền định,
Chứng đạt được cốt lõi,
Pháp được nghe, trí tuệ.Dhamme ca ye ariyapavedite ratā, Anuttarā te vacasā manasā kammunā ca; Te santisoraccasamādhisaṇṭhitā, Sutassa paññāya ca sāramajjhagū”ti. Kiṁsīlasuttaṁ navamaṁ.Those happy with the teaching proclaimed by the Noble One are supreme in speech, mind, and deed. Abiding in peace, gentleness, and stillness, they’ve realized the essence of learning and wisdom.”
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 2.9 (Kiṁsīla Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.9 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.