Phật Thuyết Như Vậy 32 · Iti 32

Kinh Giới Thứ Nhất

Paṭhamasīla Sutta

Kinh Giới Thứ Nhất nói ngắn gọn: người đầy đủ ác giới và ác kiến thì tương xứng bị rơi vào địa ngục, và kinh nêu đúng hai pháp này.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người đầy đủ hai pháp là ác giới và ác kiến thì tương xứng bị rơi vào địa ngục.
  • Bài kệ nhắc lại rằng người đầy đủ ác giới và ác kiến, khi thân hoại mạng chung, với ác trí tuệ, phải bị sanh vào cảnh giới địa ngục.
  • Kinh này nêu hai pháp: ác giới và ác kiến.

Kinh Giới Thứ Nhất thuộc Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và nêu hai pháp bằng một câu ngắn rồi lặp lại câu ấy để nhấn mạnh. Kinh mở đầu bằng lời kể lại điều Thế Tôn đã nói, rồi nêu hai pháp, và kết bằng bài kệ ngắn nhắc lại hai pháp và quả của chúng.

Cấu trúc của kinh đi từ văn xuôi sang kệ. Phần văn xuôi ở đoạn 1.1 đến 2.6 nêu hai pháp và quả tương xứng của chúng. Phần kệ ở đoạn 3.1 đến 3.6 nhắc lại hai pháp ấy theo từng câu ngắn, rồi nói về quả sau khi thân hoại mạng chung.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, sự ngắn gọn của kinh chính là điểm đáng chú ý, vì kinh không cần liệt kê nhiều điều mà chỉ cần hai pháp đã đủ để nói về hướng đi của một đời sống.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
sīla
giới, nếp sống giữ gìn
diṭṭhi
kiến, quan điểm, cách thấy
pāpaka
ác, xấu ác
niraya
địa ngục, cảnh giới khổ
duppañña
người có trí tuệ xấu ác
puggala
người, cá nhân
bhikkhu
Tỷ-kheo, vị xuất gia theo Phật
yathābhata
tương xứng, như đã mang đến
nikkhitta
bị rơi vào, bị đặt vào
kāya
thân
dhamma
pháp
samannāgata
đầy đủ, thành tựu

Kinh Giới Thứ Nhất

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, đầy đủ hai pháp, một người như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là hai? Ác giới và ác kiến. Này các Tỷ-kheo, đầy đủ hai pháp này, một người, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato puggalo yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Katamehi dvīhi? Pāpakena ca sīlena, pāpikāya ca diṭṭhiyā. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato puggalo yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, an individual with two qualities is placed in hell as if delivered there. What two? Bad conduct and bad view. An individual with these two qualities is placed in hell as if delivered there.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Người nào được thành tựu,
Đầy đủ hai pháp này,
Đầy đủ với ác giới,
Và đầy đủ ác kiến,
Khi thân hoại mạng chung,
Người có ác trí tuệ,
Người ấy phải bị sanh,
Vào cảnh giới địa ngục.
“Pāpakena ca sīlena,
pāpikāya ca diṭṭhiyā;
Etehi dvīhi dhammehi,
yo samannāgato naro;
Kāyassa bhedā duppañño,
nirayaṁ sopapajjatī”ti.
“If a person possesses these two qualities— bad conduct and bad views— when their body breaks up, that witless person is reborn in hell.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Pañcamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh nêu hai pháp: ác giới và ác kiến. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, giới nói về cách sống thể hiện ra ngoài, còn kiến nói về cách thấy dẫn đường cho cách sống ấy, nên hai pháp này bao quát cả hành động và nhận thức.

Chữ tương xứng trong kinh đáng được chú ý. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tương xứng có nghĩa là quả đi theo nhân một cách phù hợp, chứ không phải là một hình phạt được áp đặt từ bên ngoài một cách tùy tiện.

Bài kệ nhắc lại hai pháp bằng từng câu ngắn và kết bằng quả sau khi thân hoại mạng chung. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, việc bài kệ lặp lại đúng hai pháp của phần văn xuôi cho thấy kinh muốn người đọc giữ đúng hai pháp ấy trong tâm, không thêm và không bớt.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: Chẳng hạn, một người hay nói dối trong làm ăn và tin rằng nói dối là khôn ngoan thì ngày càng khó quay lại đường ngay.

Người đầy đủ ác giới và ác kiến thì tương xứng bị rơi vào địa ngục.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 32 (Paṭhamasīla Sutta, Itivuttaka 32). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 32 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp