Kinh Hai Giới
Dhātu Sutta
Kinh Hai Giới nêu ba giới là sắc giới, vô sắc giới và diệt giới, và nói người liễu tri sắc giới, không an trú vô sắc, được giải thoát đối với diệt giới thì xả ly được thần chết.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Ba giới mà kinh nêu là sắc giới, vô sắc giới và diệt giới.
- Người liễu tri sắc giới và không an trú vô sắc thì được giải thoát đối với diệt giới.
- Người như vậy xả ly thần chết, chứng được bất tử và không còn lậu hoặc.
Kinh Hai Giới nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mang số hiệu Iti 51 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba giới. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 4.6, và lời kết nằm ở đoạn 5.1 đến 5.2.
Chữ dhātuṁ, giới, chỉ một lãnh vực hiện hữu mà tâm có thể trú vào hoặc vượt qua. Kinh đặt diệt giới sau sắc giới và vô sắc giới, và bài kệ nói người liễu tri sắc giới, không an trú vô sắc, được giải thoát đối với diệt giới. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thứ tự này cho thấy diệt giới không phải một nơi chốn khác mà là sự chấm dứt của chính hai giới trước.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- rūpadhātu
- sắc giới
- arūpadhātu
- vô sắc giới
- nirodhadhātu
- diệt giới
- pariññāya
- liễu tri
- vimuccanti
- được giải thoát
- maccuhāyino
- xả ly thần chết
- amataṁ
- bất tử
- nirūpadhiṁ
- không sanh y
- anāsavo
- không còn lậu hoặc
Kinh Hai Giới
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba giới này. Thế nào là ba? Sắc giới, vô sắc giới, diệt giới. Này các Tỷ-kheo, có ba giới này.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tisso imā, bhikkhave, dhātuyo. Katamā tisso? Rūpadhātu, arūpadhātu, nirodhadhātu— imā kho, bhikkhave, tisso dhātuyo”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three elements. What three? The realm of luminous form, the formless realm, and cessation. These are the three elements.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Ai liễu tri sắc giới,
Không an trú vô sắc,
Những ai được giải thoát,
Đối với đoạn diệt giới,
Các chúng sanh như vậy,
Xả ly được thần chết,
Với thân cảm giác được,
Bất tử, không sanh y,
Xả ly, từ bỏ hẳn,
Sanh y đưa đến hữu,
Sau khi tự chứng được,
Không còn có lậu hoặc,
Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác,
Thuyết pháp con đường chánh,
Không có gì sầu muộn,
Trong sạch không cấu uế.“Rūpadhātuṁ pariññāya,
āruppesu asaṇṭhitā;
Nirodhe ye vimuccanti,
te janā maccuhāyino.
Kāyena amataṁ dhātuṁ,
phusayitvā nirūpadhiṁ;
Upadhippaṭinissaggaṁ,
sacchikatvā anāsavo;
Deseti sammāsambuddho,
asokaṁ virajaṁ padan”ti.“Comprehending the realm of luminous form, not stuck in the formless, those who are released in cessation, they are conquerors of death. Having directly experienced <j>the element free of death, free of attachments; having realized relinquishment of attachments, the undefiled fully awakened Buddha teaches the sorrowless, stainless state.”
3Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dutiyaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh xếp ba giới theo một trình tự rõ ràng, và bài kệ gắn mỗi giới với một thái độ của tâm: liễu tri sắc giới, không an trú vô sắc, và giải thoát đối với diệt giới. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, liễu tri ở đây không phải biết tên gọi mà là thấy rõ giới ấy như nó đang vận hành, còn không an trú nghĩa là không dừng lại và bám vào một cảnh giới vi tế hơn.
Bài kệ nói người như vậy xả ly thần chết, cảm nhận bất tử bằng thân, không sanh y, và sau khi tự chứng thì không còn lậu hoặc. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, những chữ này không mô tả một phép lạ mà mô tả một tâm không còn bị trói bởi sanh y, tức những điều kiện nuôi lớn một đời sống mới đầy khổ.
Ví dụ của người viết (không phải lời kinh), không phải chuyện trong kinh: một người tập ngồi yên mỗi sáng, ban đầu chỉ mong cảm giác dễ chịu của thân, sau đó nhận ra cảm giác dễ chịu cũng đổi thay, và khi không còn bám vào cảm giác ấy thì buổi ngồi trở nên nhẹ nhàng hơn dù thân vẫn mỏi như trước.
Bài kệ kết bằng hình ảnh bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuyết pháp con đường chánh, không sầu muộn và trong sạch không cấu uế. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, con đường ấy được gọi là chánh vì nó đi qua liễu tri và xả ly, chứ không đi qua việc tìm một cảnh giới khác để trú ẩn.
Liễu tri sắc giới và không an trú vô sắc là đường đến giải thoát đối với diệt giới.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 51 (Dhātu Sutta, Itivuttaka 51). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 51 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.