Kinh Niệm Chết
Maraṇassati Sutta
Còn gọi là: Kinh Niệm Chết Thứ Nhất
Nếu chỉ còn sống thêm một ngày, bạn sẽ làm gì? Đức Phật nói như vậy vẫn còn chậm. Người thật sự nhớ đến cái chết thì quý từng miếng cơm, từng hơi thở.
Trước khi đọc kinh
Kinh Niệm Chết (Maraṇassati Sutta), trong bản Pāli gọi là Kinh Niệm Chết Thứ Nhất, là bài kinh thứ chín trong phẩm Đáng Nhớ, phần Sáu Pháp của Tăng Chi Bộ. Đức Thế Tôn đang trú tại Nātika, trong ngôi nhà gạch; theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), Nātika là tên một ngôi làng, và đó là một tòa nhà xây bằng gạch. Ngài mở lời: niệm chết (maraṇassati), khi được tu tập, được thực hành nhiều, sẽ đem lại quả lớn, lợi ích lớn, đi sâu vào bất tử, lấy bất tử làm chỗ kết thúc; rồi Ngài hỏi các Tỷ-kheo có tu tập niệm chết không (đoạn 1.6–1.7). Theo chú giải, “bất tử” ở đây là Niết-bàn: niệm chết lấy Niết-bàn làm chỗ đứng.
Sáu vị Tỷ-kheo lần lượt thưa. Vị thứ nhất nghĩ: ước gì mình còn sống thêm một ngày một đêm để chú tâm vào lời dạy của Đức Thế Tôn, như thế mình làm được biết bao việc (đoạn 2.5). Vị thứ hai ước sống thêm một ngày (đoạn 3.5); vị thứ ba, đủ thời gian ăn xong một bữa cơm khất thực (đoạn 4.5); vị thứ tư, đủ thời gian nhai và nuốt bốn, năm miếng cơm (đoạn 5.5); vị thứ năm, chỉ một miếng cơm (đoạn 6.5); vị thứ sáu, chỉ bằng khoảng thở vào rồi thở ra, hay thở ra rồi thở vào (đoạn 7.5). Theo chú giải, vị này mong được sống chừng nào làn hơi đi vào còn kịp đi ra, làn hơi đi ra còn kịp đi vào. Đức Phật nhận xét: bốn vị đầu sống phóng dật, tu tập niệm chết một cách chậm chạp (đoạn 12.1); hai vị sau sống không phóng dật (appamatta, không buông lung, luôn tỉnh táo), tu tập niệm chết một cách sắc bén để đoạn tận các lậu hoặc (đoạn 15.1), mà theo chú giải là để đạt quả A-la-hán. Lời dặn sau cùng dành cho tất cả: hãy sống không phóng dật, hãy tu tập niệm chết một cách sắc bén (đoạn 16.2).
Hiểu đúng: niệm chết trong bài kinh này không phải là ngồi nghĩ chuyện buồn hay nuôi nỗi sợ. Không vị Tỷ-kheo nào trong kinh than thở; ai cũng chỉ nghĩ đến việc dùng thời gian còn lại để thực hành lời Phật dạy. Chỗ khác nhau nằm ở độ dài của chữ “còn”: còn một ngày thì vẫn có thể để đến chiều mới làm, còn một hơi thở thì chỉ có lúc này. Đối với người tại gia, bạn có thể thử một việc nhỏ: trước bữa cơm, nhớ rằng miếng cơm này cũng có thể là miếng cuối, rồi ăn trong chánh niệm; hoặc khi sắp nói một câu nặng lời, tự hỏi nếu đây là hơi thở cuối thì mình có muốn dùng nó cho câu ấy không. Nhớ đến cái chết như vậy không làm đời sống u ám, mà làm cho mỗi việc lành trở nên quý giá hơn, đúng với lời dặn chớ phóng dật.
Ý chính
- Niệm chết khi được tu tập, được thực hành nhiều, đem lại quả lớn, lợi ích lớn, đi sâu vào bất tử (1.6).
- Một vị ước sống thêm một ngày một đêm để chú tâm vào lời dạy của Đức Thế Tôn (2.5).
- Các vị khác thu ngắn dần: một ngày, một bữa ăn, bốn năm miếng cơm, một miếng cơm (3.5, 4.5, 5.5, 6.5).
- Vị cuối cùng chỉ mong sống thêm khoảng một lần thở vào rồi thở ra (7.5).
- Người nghĩ đến một ngày, một bữa ăn còn sống phóng dật; người nghĩ đến một miếng cơm, một hơi thở thì sống không phóng dật (12.1, 15.1).
- Hãy học tập: sống không phóng dật, tu tập niệm chết một cách sắc bén để đoạn tận các lậu hoặc (16.2).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- maraṇassati
- niệm chết, sự nhớ nghĩ đến cái chết
- amatogadha
- đi sâu vào bất tử; theo chú giải là lấy Niết-bàn làm chỗ đứng
- appamatta / pamatta
- không phóng dật / phóng dật
- tikkha
- sắc bén, mạnh mẽ
- dandha
- chậm chạp, nặng nề
- āsava
- lậu hoặc, những ô nhiễm rỉ chảy trong tâm
- assāsa / passāsa
- hơi thở vào / hơi thở ra
- sāsana
- lời dạy của Đức Phật
Kinh Niệm Chết
1Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasattha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”—“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.Ekaṁ samayaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca: “maraṇassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā amatogadhā amatapariyosānā. Bhāvetha no tumhe, bhikkhave, maraṇassatin”ti?At one time the Buddha was staying at Ñātika in the brick house. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied. The Buddha said this: “Mendicants, when mindfulness of death is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. It has freedom from death as its objective and culmination. But do you develop mindfulness of death?”
2Được nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahaṁ kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti. “Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti? “Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ rattindivaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Sir, I develop mindfulness of death.” “But mendicant, how do you develop it?” “In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live for another day and night, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
3Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti. “Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti? “Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ divasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.” “But mendicant, how do you develop it?” “In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live for another day, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
4Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti. “Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti? “Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.” “But mendicant, how do you develop it?” “In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to eat a meal of almsfood, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
5Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti. “Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti? “Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ cattāro pañca ālope saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.” “But mendicant, how do you develop it?” “In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to chew and swallow four or five mouthfuls, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
6Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti. “Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti? “Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekaṁ ālopaṁ saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.” “But mendicant, how do you develop it?” “In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to chew and swallow a single mouthful, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
7Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Cho đến khi nào, sau khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti. “Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti? “Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ assasitvā vā passasāmi passasitvā vā assasāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.” “But mendicant, how do you develop it?” “In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to breathe out after breathing in, or to breathe in after breathing out, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
8Được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo ấy:
—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm, tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”.Evaṁ vutte, bhagavā te bhikkhū etadavoca: “yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ rattindivaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.When this was said, the Buddha said to those mendicants: “As to the mendicants who develop mindfulness of death by wishing to live for a day and night …
9Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”.Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ divasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.or to live for a day …
10Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”.Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.or to live as long as it takes to eat a meal of almsfood …
11–12Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”.Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ cattāro pañca ālope saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Ime vuccanti, bhikkhave, bhikkhū pamattā viharanti dandhaṁ maraṇassatiṁ bhāventi āsavānaṁ khayāya.or to live as long as it takes to chew and swallow four or five mouthfuls— these are called mendicants who live negligently. They slackly develop mindfulness of death for the ending of defilements.
13Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”.Yo ca khvāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekaṁ ālopaṁ saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.But as to the mendicants who develop mindfulness of death by wishing to live as long as it takes to chew and swallow a single mouthful …
14Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào sau khi thở vào, ta thở ra hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”.Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ assasitvā vā passasāmi passasitvā vā assasāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.or to live as long as it takes to breathe out after breathing in, or to breathe in after breathing out—
15Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc.Ime vuccanti, bhikkhave, bhikkhū appamattā viharanti tikkhaṁ maraṇassatiṁ bhāventi āsavānaṁ khayāya.these are called mendicants who live diligently. They keenly develop mindfulness of death for the ending of defilements.
16Do vậy, này các Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải tu học như sau:
“Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘appamattā viharissāma, tikkhaṁ maraṇassatiṁ bhāvessāma āsavānaṁ khayāyā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti. Navamaṁ.So you should train like this: ‘We will live diligently. We will keenly develop mindfulness of death for the ending of defilements.’ That’s how you should train.”
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 6.19 (Maraṇassati Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 6.19 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.