Kinh Tập 1.9 · Snp 1.9

Kinh Hemavata

Hemavata Sutta

Còn gọi là: Kinh Sātāgira, Kinh Tập 1.9

Đêm rằm, một dạ-xoa rủ bạn đi gặp Đức Phật. Người bạn chưa vội tin, hỏi kỹ từng điều về việc làm, lời nói và tâm ý của bậc Đạo Sư, rồi mới cùng đến hỏi về lối ra khỏi khổ đau.

Trước khi đọc kinh

Kinh Hemavata (Hemavata Sutta) là bài kinh thứ chín trong phẩm Rắn (Uragavagga) của Kinh Tập. Hai vị dạ-xoa (yakkha) trò chuyện với nhau: Sātāgira rủ bạn là Hemavata, vị dạ-xoa ở vùng núi Tuyết, rằng hôm nay là ngày rằm Bố-tát, một đêm thiêng liêng, hãy cùng đi gặp Ngài Gotama (kệ 1.1–1.5). Hemavata không đi ngay mà hỏi trước: tâm của vị ấy có vững vàng, có như nhau với mọi loài không; vị ấy có tránh lấy của không cho, tránh nói dối, tránh lời chia rẽ, có còn đắm say các dục không; có đầy đủ minh, lậu hoặc đã cạn chưa (kệ 2–11). Sātāgira trả lời từng câu. Nghe xong, Hemavata khen: tâm của bậc Mâu-ni thật trọn vẹn trong việc làm và lời nói (kệ 12.1–12.4). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), Hemavata hỏi trước về tâm, rồi lần lượt về thân, lời và ý, để biết vị ấy có thật là bậc Toàn Giác hay không, sau cùng mới hỏi về minh và hạnh. Trong bài kệ tóm lược cuối phẩm, kinh này được gọi theo tên Sātāgira (đoạn 17.1 của Kinh Bậc Ẩn Sĩ), và chú giải cũng ghi có người gọi là Kinh Sātāgira.

Chú giải kể một tiền sử dài. Vào thời Phật Ca-diếp (Kassapa), hai vị Tỷ-kheo học rộng, mỗi vị có năm trăm đệ tử, vì nể một vị Tỷ-kheo khéo hầu hạ mình nên đã không xử đúng pháp một vụ tranh chấp. Vị Tỷ-kheo giữ đúng pháp than rằng giáo pháp của bậc Đạo Sư đã mất; hai vị hối hận, mang nỗi hối hận ấy mà chết, không sinh lên cõi trời được, nên sinh làm hai vị tướng dạ-xoa, một ở núi Tuyết, một ở núi Sātā vùng Trung Ấn. Theo chú giải, đêm trong kinh là đêm rằm tháng Āsāḷha, đêm Đức Phật chuyển bánh xe Pháp như Kinh Chuyển Pháp Luân (SN 56.11). Hai bạn gặp nhau trên không trung Vương Xá (Rājagaha), vừa đi vừa ca ngợi Đức Phật; bà Kāḷī ở Kuraraghara đứng bên cửa sổ nghe được, khởi niềm vui nơi Đức Phật và chứng quả Nhập lưu ngay tại chỗ. Nửa đêm, cùng một ngàn dạ-xoa, hai vị đến vườn Lộc Uyển ở Isipatana và hỏi Đức Phật (kệ 18–25). Chú giải ghi rằng khi Đức Phật nói xong lối ra khỏi thế gian (kệ 22), hai vị tướng cùng một ngàn dạ-xoa chứng quả Nhập lưu.

Câu trả lời của Đức Phật rất ngắn: thế gian sinh khởi nơi sáu, gắn bó với sáu, chấp thủ sáu, và bị khổ não nơi sáu (kệ 19.1–19.5). Theo chú giải, “sáu” ở đây là sáu nội xứ và sáu ngoại xứ, như lời dạy trong Kinh Tất Cả (SN 35.23) và Kinh Sáu Sáu (MN 148). Lối ra là lìa bỏ lòng ham muốn nơi năm dục lạc và ý (kệ 21.1–21.4); người vượt dòng nước lũ là người luôn giữ giới, có trí tuệ, tâm an định, biết quán xét bên trong và có chánh niệm (kệ 24.1–24.4). Cách Hemavata hỏi kỹ trước khi tin gợi nhớ lời dạy trong Kinh Kālāma (AN 3.65): niềm tin đúng đến sau khi đã xét kỹ. Bạn có thể lấy chính các câu hỏi của Hemavata để tự xét mình mỗi tối: hôm nay tâm mình có vững trước điều ưa và điều không ưa không, lời mình nói có gây tổn thương hay chia rẽ ai không.

Ý chính

  • Tâm Đức Phật được đặt vững vàng, như nhau với mọi loài, các ý nghĩ trước điều ưa và không ưa đã được chế ngự (3.1–3.5).
  • Ngài không lấy của không cho, ở xa sự phóng dật, không rời bỏ thiền định (5.1–5.5).
  • Ngài không nói dối, không nói lời gây tổn thương hay chia rẽ, cân nhắc rồi nói điều có ích (7.1–7.5).
  • Thế gian sinh khởi nơi sáu, gắn bó với sáu, chấp thủ sáu và bị khổ não nơi sáu (19.1–19.5).
  • Lìa bỏ lòng ham muốn nơi năm dục lạc và ý, như vậy là thoát khỏi khổ đau (21.1–21.4).
  • Người luôn giữ giới, có trí tuệ, an định, có chánh niệm vượt qua dòng nước lũ khó vượt (24.1–24.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
yakkha
dạ-xoa, loài phi nhân có thần lực; theo chú giải, Hemavata và Sātāgira là hai vị tướng dạ-xoa
uposatha
ngày Bố-tát; ở đây là ngày rằm
tādī
người vững vàng, giữ mình như nhau trước mọi cảnh
vijjācaraṇa
minh và hạnh: trí tuệ và đức hạnh
āsava
lậu hoặc, những thứ rỉ chảy làm ô nhiễm tâm
kāmaguṇa
dục lạc: sắc, tiếng, hương, vị, xúc khả ái
ogha
dòng nước lũ; theo chú giải là bốn dòng nước lũ cuốn chúng sinh trong luân hồi
dibba patha
con đường cõi trời (kệ 26.4); theo chú giải là tám tầng thiền chứng mà Đức Phật đã thuần thục, hoặc lối an trú tịch tĩnh của các bậc A-la-hán

Kinh Hemavata

1Sàtàgira:

Nay đúng vào ngày rằm,
Ngày trai giới, bố-tát,
Nói vậy là dạ-xoa,
Tên Sàtàgira,
Đêm đã được an trú,
Đêm đẹp như cõi trời,
Hãy gặp Gotama,
Bậc Đạo Sư vô thượng.
“Ajja pannaraso uposatho, (iti sātāgiro yakkho) Dibbā ratti upaṭṭhitā; Anomanāmaṁ satthāraṁ, Handa passāma gotamaṁ”.“Today is the fifteenth day sabbath,” said Sātāgira, the native spirit of mount Sātā, “a holy night is at hand. Come now, let us see Gotama, the Teacher of peerless name.”

2Hemavata:

Có phải ý vị ấy,
Tâm nguyện thật khéo phát?
Nói vậy là dạ-xoa,
Tên Hemavata,
Có phải đối sanh loại,
Có tâm tư như vậy?
Có phải các tư duy,
Được khéo léo điều phục
Đối với các pháp khả ái,
Và pháp không khả ái?
“Kacci mano supaṇihito, (iti hemavato yakkho) Sabbabhūtesu tādino; Kacci iṭṭhe aniṭṭhe ca, Saṅkappassa vasīkatā”.“Isn’t his mind well-disposed,” said Hemavata, the native spirit of the Himalayas, “impartial toward all creatures? And aren’t his thoughts under control when it comes to likes and dislikes?”

3Sàtàgira:

Ý vị ấy là vậy,
Tâm nguyện thật khéo phát,
Nói vậy là dạ-xoa,
Tên Sàtàgira,
Đối với mọi sanh loại,
Có tâm tư như vậy,
Như vậy là tư duy,
Được khéo léo điều phục.
“Mano cassa supaṇihito, (iti sātāgiro yakkho) Sabbabhūtesu tādino; Atho iṭṭhe aniṭṭhe ca, Saṅkappassa vasīkatā”.“His mind is well-disposed,” said Sātāgira, “impartial toward all creatures. His thoughts are under control when it comes to his likes and dislikes.”

4Hemavata:

Có phải là vị ấy
Không lấy vật không cho?
Nói vậy là dạ-xoa,
Tên Hemavata,
Có phải với hữu tình,
Vị ấy khéo chế ngự?
Có phải với phóng dật,
Vị ấy khéo viễn ly?
Có phải đối thiền định,
Vị ấy không từ bỏ?
“Kacci adinnaṁ nādiyati, (iti hemavato yakkho) Kacci pāṇesu saññato; Kacci ārā pamādamhā, Kacci jhānaṁ na riñcati”.“Doesn’t he not steal?” said Hemavata, “And doesn’t he harm not a creature? Isn’t he far from negligence? And doesn’t he not neglect absorption?”

5Sàtàgira:

Vị ấy không có lấy
Những vật không được cho,
Nói vậy là dạ-xoa,
Tên Sàtàgira,
Vị ấy với hữu tình,
Rất khéo léo chế ngự,
Vị ấy với phóng dật,
Thật sự sống viễn ly,
Đức Phật đối thiền định,
Không từ bỏ, sao lãng.
“Na so adinnaṁ ādiyati, (iti sātāgiro yakkho) Atho pāṇesu saññato; Atho ārā pamādamhā, Buddho jhānaṁ na riñcati”.“He does not take what is not given,” said Sātāgira, “and he harms not a creature. He is far from negligence— the Buddha does not neglect absorption.”

6Hemavata:

Có phải là vị ấy,
Không nói lời nói láo?
Nói vậy là Dạ-xoa,
Tên Hemavata,
Có phải là vị ấy
Đoạn tận các trách nhiệm?
Có phải là vị ấy
Không nói lời vu khống?
Có phải là vị ấy
Không nói lời phù phiếm?
“Kacci musā na bhaṇati, (iti hemavato yakkho) Kacci na khīṇabyappatho; Kacci vebhūtiyaṁ nāha, Kacci samphaṁ na bhāsati”.“Doesn’t he avoid lying?” said Hemavata, “And doesn’t he not speak sharply? Doesn’t he avoid backbiting, as well as speaking nonsense?”

7Sàtàgira:

Và thật sự vị ấy,
Không nói lời nói láo,
Nói vậy là Dạ-xoa,
Tên Sàtàgira,
Đoạn tận đường ác ngữ,
Không nói lời vu khống,
Vị ấy nói những lời
Sáng suốt, có nghĩa lý.
“Musā ca so na bhaṇati, (iti sātāgiro yakkho) Atho na khīṇabyappatho; Atho vebhūtiyaṁ nāha, Mantā atthañca bhāsati”.“He does not lie,” said Sātāgira, “nor does he speak sharply. He avoids backbiting, and thoughtfully speaks wise counsel.”

8Hemavata:

Có phải đối các dục,
Vị ấy không tham ái?
Đây là lời Dạ-xoa,
Tên Hemavata,
Có phải tâm vị ấy
Không có bị dao động?
Có phải tâm vị ấy
Vượt khỏi sự si ám?
Có phải thật vị ấy,
Có mắt đối các pháp?
“Kacci na rajjati kāmesu, (iti hemavato yakkho) Kacci cittaṁ anāvilaṁ; Kacci mohaṁ atikkanto, Kacci dhammesu cakkhumā”.“Doesn’t he find sensual pleasures unattractive?” said Hemavata, “And isn’t his mind unclouded? Hasn’t he escaped delusion? Does his eye see clearly in all things?”

9Sàtàgira:

Vị ấy không tham ái
Đối với các dục vọng,
Đây là lời Dạ-xoa,
Tên Sàtàgira,
Tâm không có dao động,
Vượt khỏi mọi si ám,
Đức Phật thật có mắt
Đối với tất cả pháp.
“Na so rajjati kāmesu, (iti sātāgiro yakkho) Atho cittaṁ anāvilaṁ; Sabbamohaṁ atikkanto, Buddho dhammesu cakkhumā”.“He does not find sensual pleasures attractive,” said Sātāgira, “and his mind is unclouded. He has escaped all delusion— the Buddha, whose eye sees clearly in all things.”

10Hemavata:

Có phải là vị ấy
Đầy đủ về các minh?
Đây là lời Dạ-xoa
Tên Hemavata,
Có phải là vị ấy
Sở hành thật thanh tịnh?
Có phải là vị ấy
Các lậu hoặc đoạn tận?
Có phải là vị ấy
Không còn có tái sanh?
“Kacci vijjāya sampanno, (iti hemavato yakkho) Kacci saṁsuddhacāraṇo; Kaccissa āsavā khīṇā, Kacci natthi punabbhavo”.“Isn’t he accomplished in knowledge?” said Hemavata, “And doesn’t he live a pure life? Aren’t his defilements all ended? Doesn’t he have no future lives?”

11–13Sàtàgira:

Sự thật là vị ấy,
Đầy đủ với các minh,
Đây là lời Dạ-xoa,
Tên Sàtàgira
Sở hành thật thanh tịnh,
Mọi lậu hoặc đoạn tận,
Thật sự đối vị ấy,
Không còn có tái sanh.

Hemavata:

(a) Có phải vị ẩn sĩ,
Với tâm được viên mãn,
Mọi việc làm vị ấy
Được làm khéo hoàn mãn,
Có phải người tán thán,
Một cách đúng Chánh pháp.
Vị đầy đủ trí đức,
Đầy đủ cả hạnh đức.

Sàtàgira:

(b) Thật sự vị ẩn sĩ,
Với tâm được viên mãn,
Mọi việc làm vị ấy
Được làm khéo hoàn mãn.
Thật sự Ông tùy hỉ
Một cách đúng Chánh pháp,
Vị đầy đủ trí đức,
Đầy đủ cả hạnh đức.
“Vijjāya ceva sampanno, (iti sātāgiro yakkho) Atho saṁsuddhacāraṇo; Sabbassa āsavā khīṇā, Natthi tassa punabbhavo”. “Sampannaṁ munino cittaṁ, Kammunā byappathena ca; Vijjācaraṇasampannaṁ, Dhammato naṁ pasaṁsati”. “Sampannaṁ munino cittaṁ, Kammunā byappathena ca; Vijjācaraṇasampannaṁ, Dhammato anumodasi.“He is accomplished in knowledge,” said Sātāgira, “and he does live a pure life. His defilements are all ended, there’ll be no more future lives for him.” “Accomplished is the sage’s mind in action and in speech, and he’s accomplished in knowledge and conduct as per the teaching you praise.” “Accomplished is the sage’s mind in action and in speech, and he’s accomplished in knowledge and conduct as per the teaching you rejoice in.

14Cả hai:

Thật sự vị ẩn sĩ,
Với tâm được viên mãn,
Mọi việc làm vị ấy
Được làm khéo hoàn mãn.
Chúng ta hãy yết kiến
Tôn giả Gotama,
Vị đầy đủ trí đức,
Đầy đủ cả hạnh đức.
Sampannaṁ munino cittaṁ, Kammunā byappathena ca; Vijjācaraṇasampannaṁ, Handa passāma gotamaṁ”.Accomplished is the sage’s mind in action and in speech, and he’s accomplished in knowledge and conduct: come now, let us see Gotama.”

15Hemavata:

Bắp chân giống như nai,
Thon vững chắc, bền bỉ,
Giản dị ít nhu cầu,
Không tham đắm vật gì.
Hãy đi đến yết kiến
ẩn sĩ Gotama,
Vị hành trì thiền định,
Trong rừng núi xa vắng.
“Eṇijaṅghaṁ kisaṁ vīraṁ, Appāhāraṁ alolupaṁ; Muniṁ vanasmiṁ jhāyantaṁ, Ehi passāma gotamaṁ.“The hero so lean, with antelope calves, not greedy, eating little, the sage meditating alone in the forest, come now, let us see Gotama.

16Sống cô độc một mình,
Như sư tử, như voi,
Ngài không có tham đắm,
Không cầu mong các dục.
Chúng ta hãy đi đến,
Và hỏi thăm vị ấy
Về con đường giải thoát
Khỏi cạm bẫy Ác ma.
Sīhaṁvekacaraṁ nāgaṁ, Kāmesu anapekkhinaṁ; Upasaṅkamma pucchāma, Maccupāsappamocanaṁ.A giant, wandering alone like a lion, unconcerned for sensual pleasures, let’s approach him and ask about release from the snare of death.”

17–18Cả hai:

Vị tuyên bố giải thích,
Vị đạt đến mọi pháp,
Bậc giác ngộ vượt khỏi
Hận thù và sợ hãi,
Chúng ta hãy đến học
Sa-môn Gotama.

Hemavata:

Do pháp nào có mặt,
Thế giới được sanh khởi,
Nói vậy là dạ-xoa,
Tên Hemavata.
Do pháp nào có mặt,
Tác thành sự giao hợp?
Sự chấp thủ ở đời,
Là chấp thủ cái gì?
Do pháp nào có mặt,
Thế giới bị tàn hại?
Akkhātāraṁ pavattāraṁ, Sabbadhammāna pāraguṁ; Buddhaṁ verabhayātītaṁ, Mayaṁ pucchāma gotamaṁ”. “Kismiṁ loko samuppanno, (iti hemavato yakkho) Kismiṁ kubbati santhavaṁ; Kissa loko upādāya, Kismiṁ loko vihaññati”.“The communicator, the instructor, who has gone beyond all things, Awakened, beyond enmities and fears, let us ask Gotama.” “What has the world arisen in?” said Hemavata, “What does it get close to? By grasping what is the world troubled in what?”

19–21Thế Tôn:

Do sáu pháp có mặt,
Thế giới được sanh khởi,
Này Hemavata,
Thế Tôn nói như vậy.
Do sáu pháp có mặt,
Tác thành sự giao hợp,
Sự chấp thủ ở đời,
Là chấp thủ sáu pháp,
Do sáu pháp có mặt,
Thế giới bị tàn hại.

Hemavata:

Do chấp thủ cái gì,
Đây thế giới bị hại?
Được hỏi, hãy nói lên,
Về con đường thoát đời.
Làm thế nào đau khổ,
Được giải thoát hoàn toàn?

Thế Tôn:

Đây, năm dục trưởng dưỡng,
Ý được gọi thứ sáu,
Bỏ ước muốn ở đây,
Như vậy, thoát đau khổ.
“Chasu loko samuppanno, (hemavatāti bhagavā) Chasu kubbati santhavaṁ; Channameva upādāya, Chasu loko vihaññati”. “Katamaṁ taṁ upādānaṁ, Yattha loko vihaññati; Niyyānaṁ pucchito brūhi, Kathaṁ dukkhā pamuccati”. “Pañca kāmaguṇā loke, Manochaṭṭhā paveditā; Ettha chandaṁ virājetvā, Evaṁ dukkhā pamuccati.“The world’s arisen in six,” said the Buddha to Hemavata. “It gets close to six. Derived from the six, the world’s troubled in six.” “What is that grasping by which the world is troubled? Tell us the exit when asked: how is one released from all suffering?” “The world has five kinds of sensual stimulation, and the mind is said to be the sixth. When you’ve discarded desire for these, you’re released from all suffering.

22Đây, con đường thoát đời.
Như thật nói Ông rõ,
Đường này Ta nói Ông,
Như vậy, thoát đau khổ.
Etaṁ lokassa niyyānaṁ, Akkhātaṁ vo yathātathaṁ; Etaṁ vo ahamakkhāmi, Evaṁ dukkhā pamuccati”.This is the exit from the world, explained in accord with the truth. The way I’ve explained it is how you’re released from all suffering.”

23Hemavata:

Đây, ai vượt bộc lưu?
Đây, ai vượt biển lớn?
Không chân đứng bám víu,
Ai không chìm vực sâu?
“Ko sūdha tarati oghaṁ, Kodha tarati aṇṇavaṁ; Appatiṭṭhe anālambe, Ko gambhīre na sīdati”.“Who here crosses the flood, Who crosses the deluge? Who, not standing and unsupported, does not sink in the deep?”

24Thế Tôn:

Ai luôn luôn đủ giới,
Có tuệ, khéo thiền định,
Tâm hướng nội, chánh niệm,
Vượt bộc lưu khó vượt.
“Sabbadā sīlasampanno, Paññavā susamāhito; Ajjhattacintī satimā, Oghaṁ tarati duttaraṁ.“Someone who is always endowed with ethics, wise and serene, inwardly reflective, mindful, crosses the flood so hard to cross.

25–26Ai từ bỏ dục tưởng,
Vượt khỏi mọi kiết sử,
Ai, hỷ, hữu đoạn tận,
Không chìm vào vực sâu.

Hemavata:

Vị trí tuệ thâm sâu,
Thấy được đích tế nhị,
Vị không có sở hữu,
Không tham đắm dục hữu.
Hãy yết kiến vị ấy,
Vị luôn luôn giải thoát,
Bậc đại sĩ tiến bước,
Trên con đường Thiên đạo.
Virato kāmasaññāya, Sabbasaṁyojanātigo; Nandībhavaparikkhīṇo, So gambhīre na sīdati”. “Gambhīrapaññaṁ nipuṇatthadassiṁ, Akiñcanaṁ kāmabhave asattaṁ; Taṁ passatha sabbadhi vippamuttaṁ, Dibbe pathe kamamānaṁ mahesiṁ.Someone who desists from sensual perception, who has escaped all fetters, and has ended relish for rebirth, does not sink in the deep.” “Behold him of wisdom deep who sees the subtle meaning, who has nothing, unattached to sensual life, everywhere free, the great seer treading the holy road.

27Bậc danh xưng vô thượng,
Bậc thấy đích tế nhị,
Bậc ban bố trí tuệ,
Không tham đắm dục tạng.
Hãy yết kiến vị ấy,
Vị Toàn trí, Thiện tuệ,
Bậc Đại sĩ tiến bước
Trên con đường Thánh đạo.
Anomanāmaṁ nipuṇatthadassiṁ, Paññādadaṁ kāmālaye asattaṁ; Taṁ passatha sabbaviduṁ sumedhaṁ, Ariye pathe kamamānaṁ mahesiṁ.Behold him of peerless name who sees the subtle meaning, giver of wisdom, unattached to the realm of sensuality: the all-knower, so very intelligent, the great seer treading the noble road.

28Hôm nay thật chúng con
Được thấy điềm tốt lành,
Được hào quang chói sáng,
Của bình minh tốt lành.
Vì chúng con được thấy,
Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác,
Bậc đã vượt bộc lưu,
Bậc đã đoạn lậu hoặc.
Sudiṭṭhaṁ vata no ajja, Suppabhātaṁ suhuṭṭhitaṁ; Yaṁ addasāma sambuddhaṁ, Oghatiṇṇamanāsavaṁ.It was a fine sight for us today, a good sunup, a good rising, to see the Awakened One, the undefiled one who has crossed the flood.

29Ngàn vị dạ-xoa này,
Có thần lực danh xưng,
Tất cả xin đi đến
Y tựa quy ngưỡng Ngài,
Ngài là bậc Đạo Sư,
Vô thượng của chúng con.
Ime dasasatā yakkhā, Iddhimanto yasassino; Sabbe taṁ saraṇaṁ yanti, Tvaṁ no satthā anuttaro.These thousand native spirits powerful and glorious, all go to you for refuge, you are our supreme Teacher.

30Chúng con sẽ bộ hành
Làng này qua làng khác,
Thành này qua thành khác,
Đảnh lễ bậc Chánh giác,
Đảnh lễ thiện pháp tánh,
Của Chánh pháp vi diệu.
Te mayaṁ vicarissāma, Gāmā gāmaṁ nagā nagaṁ; Namassamānā sambuddhaṁ, Dhammassa ca sudhammatan”ti. Hemavatasuttaṁ navamaṁ.We shall journey village to village, peak to peak, paying homage to the Buddha, and the clear rightness of the teaching!”

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 1.9 (Hemavata Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.9 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp