Kinh Hữu Học Thứ Hai
Dutiyasekha Sutta
Kinh Hữu Học Thứ Hai dạy rằng, đối với vị Tỷ-kheo còn đang học đạo, không có ngoại chi phần nào đem lại lợi ích lớn bằng làm bạn với thiện.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Người hữu học chưa thành tựu đạo quả cần nương vào ngoại chi phần đem lại nhiều lợi ích.
- Làm bạn với thiện là chi phần đem lại lợi ích lớn nhất cho người hữu học.
- Vị Tỷ-kheo làm bạn với thiện từ bỏ bất thiện, tu tập thiện và tuần tự diệt trừ mọi kiết sử.
Kinh Hữu Học Thứ Hai thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy, tức Itivuttaka, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ Kinh. Kinh ghi lại lời dạy dành cho vị Tỷ-kheo còn đang học đạo, tức người chưa thành tựu đạo quả nhưng đang hướng đến sự an ổn tối thượng khỏi các triền ách.
Bài kinh có cấu trúc gọn và dễ theo dõi. Phần xuôi nêu rõ chi phần đem lại lợi ích lớn nhất cho người hữu học, phần kệ tóm lại con đường từ tôn kính bạn thiện đến diệt trừ kiết sử, và phần kết xác nhận ý nghĩa đã được Thế Tôn nói đến. Chữ kalyāṇamittatā, làm bạn với thiện, là điểm tựa xuyên suốt bài kinh, và theo cách đọc của người viết, người đọc có thể theo dõi ba bước trong bài kinh: chọn bạn thiện, làm theo lời bạn thiện với tâm tỉnh giác, rồi tuần tự diệt trừ kiết sử.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- kalyāṇamittatā
- làm bạn với thiện
- kalyāṇamitto
- người bạn thiện
- sekha
- người hữu học
- akusala
- bất thiện
- kusala
- thiện
- saṁyojana
- kiết sử, sợi dây trói buộc
- sampajāno
- tỉnh giác, biết rõ
- patissato
- tỉnh thức và có niệm
Kinh Hữu Học Thứ Hai
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các triền ách, sau khi làm thành ngoại chi phần, Ta không thấy một chi phần nào khác, được nhiều lợi ích như vậy, này các Tỷ-kheo, tức là làm bạn với thiện. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo làm bạn với thiện, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Sekhassa, bhikkhave, bhikkhuno appattamānasassa anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānassa viharato bāhiraṁ aṅganti karitvā nāññaṁ ekaṅgampi samanupassāmi yaṁ evaṁ bahūpakāraṁ yathayidaṁ, bhikkhave, kalyāṇamittatā. Kalyāṇamitto, bhikkhave, bhikkhu akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāvetī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Taking into account exterior factors, mendicants, I do not see a single one that is so very helpful as good friendship for a trainee mendicant who hasn’t achieved their heart’s desire, but lives aspiring to the supreme sanctuary from the yoke. A mendicant who has good friends gives up the unskillful and develops the skillful.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Tỷ-kheo làm bạn thiện,
Tôn kính và kính trọng,
Làm theo những lời nói,
Của bạn bè thân hữu,
Tỉnh giấc và chánh niệm,
Vị ấy sẽ tuần tự,
Đạt được sự hoại diệt,
Tất cả mọi kiết sử.“Kalyāṇamitto yo bhikkhu,
sappatisso sagāravo;
Karaṁ mittānaṁ vacanaṁ,
sampajāno patissato;
Pāpuṇe anupubbena,
sabbasaṁyojanakkhayan”ti.“A mendicant with good friends is reverential and respectful when their friends are speaking, aware and mindful. Gradually they would attain the ending of all fetters.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Sattamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Theo cách đọc của người viết, kinh đặt người hữu học vào vị trí người đang đi trên đường mà chưa đến đích. Điểm này cần ghi nhớ, vì bài kinh không nói về người đã thành tựu mà nói về người còn cần nương tựa vào điều kiện hỗ trợ bên ngoài, tức ngoại chi phần, trong lúc tu tập.
Làm bạn với thiện được nêu là chi phần đem lại lợi ích lớn nhất, không phải vì bạn thiện làm thay việc tu tập cho người học, mà vì gần người thiện giúp người học dễ từ bỏ bất thiện và siêng tu tập thiện. Phần giải thích này là cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh.
Ví dụ của người viết, không phải lời kinh: người đi đường xa chưa thuộc lối cần có người chỉ đường đáng tin cậy, chứ không tự mò lối trong đêm.
Kệ kinh nêu thái độ đối với bạn thiện: tôn kính, kính trọng và làm theo lời nói của bạn bè thân hữu, cùng với tỉnh giác và chánh niệm. Từ đó vị ấy tuần tự đạt được sự hoại diệt mọi kiết sử. Chữ tuần tự cho thấy diệt trừ kiết sử là tiến trình từng bước, không phải việc xong trong một lần. Phần giải thích này là cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh.
Gần bạn thiện, từ bỏ bất thiện và tu tập thiện là con đường tuần tự đưa người hữu học đến diệt trừ kiết sử.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 17 (Dutiyasekha Sutta, Itivuttaka 17). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 17 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.