Tương Ưng Bộ 56.21 · SN 56.21

Kinh Kotigāma Thứ Nhất

Paṭhamakoṭigāma Sutta

Kinh Kotigāma Thứ Nhất nói rằng do không giác ngộ và không thông đạt bốn Thánh đế mà Đức Phật và các Tỷ-kheo lâu ngày phải dong ruổi và lưu chuyển, và khi bốn Thánh đế được giác ngộ thì hữu ái bị chặt đứt và không còn tái sanh nữa.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Do không giác ngộ và không thông đạt bốn Thánh đế là Khổ, Khổ tập, Khổ diệt và Con Đường đưa đến Khổ diệt nên phải dong ruổi lâu ngày.
  • Khi bốn Thánh đế đã được giác ngộ và thông đạt thì hữu ái bị chặt đứt và những gì đưa đến tái sanh bị đoạn tận.
  • Bài kệ kết rằng do không như thật thấy bốn sự thật bậc Thánh nên phải luân chuyển qua nhiều đời sống, khi chúng được thấy rõ thì mầm tái sanh nhổ sạch và gốc khổ được đoạn tận.

Kinh Kotigāma Thứ Nhất thuộc Tương Ưng Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh, nằm trong phẩm về các Thánh đế. Kinh mở đầu tại Kotigāma, giữa các dân chúng Vajjī, nơi Thế Tôn trú và nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, ở đoạn 1.1 đến 1.2.

Cấu trúc của kinh đi từ văn xuôi sang kệ. Phần văn xuôi ở đoạn 1.3 đến 3.2 nêu bốn Thánh đế hai lần, một lần ở dạng chưa giác ngộ và một lần ở dạng đã giác ngộ, rồi nói về hữu ái bị chặt đứt và không còn tái sanh. Phần kệ ở đoạn 4.1 đến 5.5 nhắc lại ý chính bằng hình ảnh lâu ngày luân chuyển qua nhiều đời sống và mầm tái sanh bị nhổ sạch khi bốn sự thật được thấy rõ.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh này là một bản tóm tắt rất gọn của toàn bộ lời dạy về bốn Thánh đế, vì nó đặt bốn Thánh đế làm trung tâm của cả luân hồi và giải thoát.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
ariyasacca
Thánh đế, sự thật bậc Thánh
dukkha
khổ
samudaya
tập, nguyên nhân của khổ
nirodha
diệt, sự đoạn tận của khổ
paṭipadā
con đường, cách thực hành
bhavataṇhā
hữu ái, khát ái đưa đến hiện hữu
bhavanetti
mầm tái sanh, sợi dây đưa đến tái sanh
punabbhava
tái sanh, sự sanh trở lại
bhikkhu
Tỷ-kheo, vị xuất gia theo Phật
satthā
bậc Đạo Sư, Đức Phật

Kinh Kotigāma Thứ Nhất

1.1Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú giữa các dân chúng Vajjī, tại Kotigāma.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vajjīsu viharati koṭigāme.At one time the Buddha was staying in the land of the Vajjis at the village of Koṭi.

1.2Tại đấy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:There the Buddha addressed the mendicants:

1.3–2.1—Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt bốn Thánh đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Thế nào là bốn?“catunnaṁ, bhikkhave, ariyasaccānaṁ ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Katamesaṁ catunnaṁ?“Mendicants, due to not understanding and not penetrating four noble truths, both you and I have wandered and transmigrated for such a very long time. What four?

2.2–2.5Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này … Thánh đế về Khổ tập … Thánh đế về Khổ diệt … Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.Dukkhassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Dukkhasamudayassa ariyasaccassa …pe… dukkhanirodhassa ariyasaccassa …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering.

2.6Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ tập đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt. Được chặt đứt là hữu ái, được đoạn tận là những gì đưa đến tái sanh (bhavanetti). Nay không còn tái sanh nữa.Tayidaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ; ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti; natthi dāni punabbhavo”ti.These noble truths of suffering, origin, cessation, and the path have been understood and comprehended. Craving for continued existence has been cut off; the leash to existence is ended; now there’ll be no more future lives.”

3.1–3.2Thế Tôn thuyết giảng như vậy … bậc Đạo Sư lại nói thêm:Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

4.1–5.5Do không như thật thấy, Bốn sự thật bậc Thánh, Phải lâu ngày luân chuyển, Trải qua nhiều đời sống. Khi chúng được thấy rõ, Mầm tái sanh nhổ sạch, Gốc khổ được đoạn tận, Nay không còn tái sanh.

Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
“Catunnaṁ ariyasaccānaṁ, Yathābhūtaṁ adassanā; Saṁsitaṁ dīghamaddhānaṁ, Tāsu tāsveva jātisu. Tāni etāni diṭṭhāni, bhavanetti samūhatā; Ucchinnaṁ mūlaṁ dukkhassa, natthi dāni punabbhavo”ti. Paṭhamaṁ.“Because of not truly seeing the four noble truths, we have transmigrated for a long time from one rebirth to the next. But now that these truths have been seen, the leash to existence is eradicated. The root of suffering is cut off, now there’ll be no more future lives.”

Giải nghĩa ngắn

Kinh nêu bốn Thánh đế theo thứ tự quen thuộc: Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt và Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, bốn Thánh đế này không phải là bốn bài học rời rạc mà là một vòng tròn khép kín: thấy khổ, thấy nguyên nhân của khổ, thấy sự đoạn tận của khổ và thấy con đường đưa đến sự đoạn tận ấy.

Điều đáng chú ý là kinh nói Đức Phật và các Tỷ-kheo lâu ngày phải dong ruổi vì không giác ngộ bốn Thánh đế. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu nói này đặt Đức Phật trước khi giác ngộ vào cùng một hoàn cảnh với mọi người, và cho thấy luân hồi không phải là số phận riêng của người xấu mà là kết quả chung của sự chưa thấy rõ.

Khi bốn Thánh đế đã được giác ngộ và thông đạt thì hữu ái bị chặt đứt và những gì đưa đến tái sanh bị đoạn tận. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hữu ái ở đây là sự khao khát được tiếp tục hiện hữu, và khi khao khát ấy bị chặt đứt thì sợi dây kéo người ta trở lại đời sống khổ cũng bị cắt theo.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh (không phải lời kinh): chị Lan cứ lặp lại một thói quen mua sắm để khỏa lấp buồn chán, mỗi lần mua xong thì buồn chán lại trở lại, và chỉ khi chị thấy rõ vòng lặp ấy thì chị mới bắt đầu dừng lại, giống như việc thấy rõ nguyên nhân thì vòng lặp mới có thể chấm dứt.

Bài kệ kết bằng hình ảnh mầm tái sanh bị nhổ sạch và gốc khổ bị đoạn tận. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh nhổ mầm nói về việc xử lý tận gốc thay vì chỉ cắt ngọn, và hình ảnh gốc khổ bị đoạn tận nói về sự chấm dứt hoàn toàn chứ không phải sự tạm lắng xuống.

Không thấy bốn Thánh đế nên phải luân chuyển lâu ngày, thấy rõ bốn Thánh đế thì mầm tái sanh nhổ sạch và không còn tái sanh.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tương Ưng Bộ 56.21 (Paṭhamakoṭigāma Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 56.21 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp