Kinh Lậu Hoặc Thứ Nhất
Paṭhamaāsava Sutta
Kinh Lậu Hoặc Thứ Nhất nêu ba lậu hoặc là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, và dạy đệ tử Phật quán tri các lậu hoặc cùng sự hiện hữu của chúng để tâm được diệt.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Ba lậu hoặc mà kinh nêu là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
- Đệ tử Phật quán tri các lậu hoặc và sự hiện hữu của các lậu hoặc.
- Tại nơi các lậu hoặc diệt, con đường đưa đến diệt hiện ra và vị ấy không còn ước muốn, tịch tịnh.
Kinh Lậu Hoặc Thứ Nhất nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mang số hiệu Iti 56 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba lậu hoặc. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 4.4, và lời kết nằm ở đoạn 5.1 đến 5.2.
Chữ āsavā, lậu hoặc, chỉ những dòng rỉ chảy trong tâm làm ô nhiễm và nuôi lớn khổ đau. Kinh nêu ba lậu hoặc mà không giải thích dài dòng, rồi bài kệ gắn việc quán tri với định tĩnh, tỉnh giác và chánh niệm. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh rỉ chảy giúp thấy lậu hoặc không phải một biến cố lớn xảy ra một lần, mà là điều nhỏ giọt đều đặn cho đến khi tâm thấm đầy.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- āsavā
- lậu hoặc
- kāmāsavo
- dục lậu
- bhavāsavo
- hữu lậu
- avijjāsavo
- vô minh lậu
- samāhito
- định tĩnh
- sampajāno
- tỉnh giác
- sato
- chánh niệm
- sāvako
- đệ tử
- pajānāti
- quán tri
- sambhavaṁ
- sự hiện hữu
Kinh Lậu Hoặc Thứ Nhất
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này. Thế nào là ba? Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tayome, bhikkhave, āsavā. Katame tayo? Kāmāsavo, bhavāsavo, avijjāsavo— ime kho, bhikkhave, tayo āsavā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three defilements. What three? The defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. These are the three defilements.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Định tĩnh và tỉnh giác
Chánh niệm đệ tử Phật,
Quán tri các lậu hoặc,
Và hiện hữu lậu hoặc,
Ở đây tâm được diệt,
Và con đường đến diệt,
Tỷ-kheo đã diệt tận,
Các loại lậu hoặc ấy,
Không còn có ước muốn,
Được lắng dịu, tịch tịnh.“Samāhito sampajāno,
sato buddhassa sāvako;
Āsave ca pajānāti,
āsavānañca sambhavaṁ.
Yattha cetā nirujjhanti,
maggañca khayagāminaṁ;
Āsavānaṁ khayā bhikkhu,
nicchāto parinibbuto”ti.“Stilled, aware, a mindful disciple of the Buddha understands defilements, the cause of defilements, where they cease, and the path that leads to their ending. With the ending of defilements, a mendicant is hungerless, quenched.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Sattamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh đặt ba lậu hoặc cạnh nhau mà không xếp hạng, và điều này tự nó đã nói một điều: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu cùng nuôi nhau. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, vô minh che mờ cái thấy, dục kéo tâm chạy theo cảm giác, và hữu giữ tâm ở lại với một đời sống mà nó muốn tiếp tục, nên trừ một mà còn hai thì dòng rỉ vẫn chảy.
Bài kệ nói tại nơi các lậu hoặc diệt thì tâm ấy diệt, và con đường đến diệt hiện ra, rồi vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc thì không còn ước muốn, được lắng dịu tịch tịnh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, diệt tận ở đây không phải một lần quét sạch mà là dòng rỉ đã ngừng, nên tâm không còn bị thấm ướt thêm nữa.
Ví dụ của người viết (không phải lời kinh), không phải chuyện trong kinh: một người mỗi ngày xem tin tức gây giận dữ một ít, ban đầu chỉ thấy khó chịu thoáng qua, nhưng sau nhiều tuần thì người ấy dễ nổi nóng với người thân mà không rõ vì sao, và dòng khó chịu nhỏ giọt ấy giống như lậu hoặc mà kinh nói.
Kinh không dạy trừ lậu hoặc bằng cách ghét bỏ bản thân hay bằng một lời hứa hẹn, mà dạy quán tri cho đến khi lậu hoặc diệt tận. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, ghét bỏ chỉ đổi một dòng rỉ này lấy một dòng rỉ khác, còn quán tri nhìn thẳng vào dòng rỉ đang chảy cho đến khi nó ngừng.
Quán tri ba lậu hoặc trong định tĩnh, tỉnh giác và chánh niệm là đường đến diệt tận lậu hoặc và tịch tịnh.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 56 (Paṭhamaāsava Sutta, Itivuttaka 56). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 56 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.