Phật Thuyết Như Vậy 84 · Iti 84

Kinh Lợi Ích Số Đông

Bahujanahita Sutta

Kinh Lợi Ích Số Đông kể lại ba hạng người xuất hiện ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc và vì an lạc cho nhiều người, từ bậc Đạo Sư đến đệ tử đã giải thoát và bậc hữu học.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Bậc Đạo Sư xuất hiện ở đời và thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh.
  • Đệ tử của bậc Đạo Sư đã đoạn tận các lậu hoặc và giải thoát nhờ chánh trí cũng thuyết pháp như vậy cho nhiều người.
  • Đệ tử hữu học đang đi trên con đường, nghe nhiều và giữ giới đầy đủ, cũng thuyết pháp như vậy cho nhiều người.

Kinh Lợi Ích Số Đông thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 84. Bài kinh mở đầu bằng lời khẳng định rằng có ba hạng người xuất hiện ở đời đem lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời. Sau đó kinh trình bày từng hạng người theo thứ tự, và mỗi hạng đều được nói là thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Chữ satthā nghĩa là bậc Đạo Sư, chữ sāvako nghĩa là đệ tử.

Ba hạng người trong kinh là bậc Đạo Sư, đệ tử đã thành tựu và đệ tử hữu học. Bậc Đạo Sư được mô tả đầy đủ bằng các danh hiệu như bậc A-la-hán và Chánh Đẳng Giác. Đệ tử đã thành tựu được mô tả là bậc đã đoạn tận các lậu hoặc, việc cần làm đã làm và gánh nặng đã đặt xuống. Đệ tử hữu học được mô tả là bậc đang đi trên con đường, nghe nhiều và giữ giới đầy đủ. Phần kệ cuối kinh gọi ba vị này là ba vị tối thượng, bậc tác thành hào quang và bậc tuyên bố Chánh pháp.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
satthā
bậc Đạo Sư
sāvako
đệ tử
arahāṁ
bậc A-la-hán
sammāsambuddho
Chánh Đẳng Giác
khīṇāsavo
bậc đã đoạn tận lậu hoặc
sekho
bậc hữu học
bahussuto
bậc nghe nhiều
brahmacariyaṁ
Phạm hạnh

Kinh Lợi Ích Số Đông

1Có ba hạng người này xuất hiện ở đời, xuất hiện đem lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất xuất hiện ở đời, xuất hiện đem lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc, cho chư Thiên và loài Người.

Lại nữa này các Tỷ-kheo, đệ tử của bậc Đạo Sư ấy, bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích của mình đã đạt được, hữu kiết sử đã đoạn tận, đã giải thoát nhờ chánh trí. Vị ấy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ hai xuất hiện ở đời, xuất hiện đem đến hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đệ tử bậc Đạo Sư ấy là bậc hữu học, đang đi trên con đường, vị nghe nhiều, giới cấm được gìn giữ. Vị ấy cũng thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ ba xuất hiện ở đời, xuất hiện đem đến hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Này các Tỷ-kheo, có ba hạng người xuất hiện ở đời, xuất hiện đem đến hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Bậc Đạo Sư ở đời,
Đại ẩn sĩ thứ nhất,
Tiếp nối theo vị ấy
Là đệ tử Đạo Sư,
Đã tu tập tự ngã,
Tiếp đến bậc hữu học,
Đang đi trên con đường,
Bậc nghe nhiều học nhiều,
Bậc giới cấm đầy đủ.

Ba vị tối thượng này,
Giữa chư Thiên, loài Người,
Bậc tác thành hào quang,
Bậc tuyên bố Chánh pháp
Mở toang cửa bất tử,
Đã giúp đỡ nhiều người.
Thoát ly khỏi ách nạn.

Những ai tùy bước theo,
Con đường khéo thuyết giảng,
Bởi bậc Vô Thượng Sĩ,
Bậc cầm đầu lữ hành,
Vị ấy tại đời này,
Chấm dứt mọi khổ đau,
Những vị không phóng dật,
Trong giáo lý Thiện Thệ.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tayome puggalā loke uppajjamānā uppajjanti bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame tayo? Idha, bhikkhave, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo puggalo loke uppajjamāno uppajjati bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Puna caparaṁ, bhikkhave, tasseva satthu sāvako arahaṁ hoti khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo puggalo loke uppajjamāno uppajjati bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Puna caparaṁ, bhikkhave, tasseva satthu sāvako sekho hoti pāṭipado bahussuto sīlavatūpapanno. Sopi dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo puggalo loke uppajjamāno uppajjati bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā loke uppajjamānā uppajjanti bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Satthā hi loke paṭhamo mahesi, Tassanvayo sāvako bhāvitatto; Athāparo pāṭipadopi sekho, Bahussuto sīlavatūpapanno. Ete tayo devamanussaseṭṭhā, Pabhaṅkarā dhammamudīrayantā; Apāpuranti amatassa dvāraṁ, Yogā pamocenti bahujjanaṁ te. Ye satthavāhena anuttarena, Sudesitaṁ maggamanukkamanti; Idheva dukkhassa karonti antaṁ, Ye appamattā sugatassa sāsane”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Pañcamaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “These three individuals, mendicants, arise in the world for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. What three? It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. This is the first individual who arises in the world for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. Furthermore, it’s when a mendicant is a perfected one, with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment. They teach Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. This is the second individual who arises in the world for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. Furthermore, it’s when a disciple of that Teacher is a trainee, a learned practitioner with precepts and observances intact. They teach Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. This is the third individual who arises in the world for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. These are the three individuals who arise in the world for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “The Teacher is the first, the great seer, following whom is the evolved disciple, and then a trainee, a practitioner, learned, with precepts and observances intact. These three are first among gods and humans, beacons proclaiming the teaching! They fling open the door to freedom from death, freeing many from yokes. Following the path so well taught by the unsurpassed caravan leader, those who are diligent in the Holy One’s teaching make an end of suffering in this very life.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Điểm chính của Kinh Lợi Ích Số Đông nằm ở chỗ cả ba hạng người đều làm cùng một việc, đó là thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện và trình bày Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh không đặt giá trị của người thuyết pháp vào địa vị cao thấp, mà đặt vào việc pháp được trình bày có đầy đủ và thanh tịnh hay không.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người đã học pháp vững vàng chia sẻ lại điều người ấy hiểu cho bạn bè trong một buổi gặp gỡ nhỏ, nói rõ ràng từ đầu đến cuối và không thêm thắt điều người ấy chưa chắc chắn. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung việc thuyết pháp đem lại lợi ích trong đời thường (không phải lời kinh).

Kinh cũng nêu rõ mục đích của sự xuất hiện ấy, đó là vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc và vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, mục đích này nhắc rằng việc truyền bá pháp không hướng đến danh tiếng của người nói, mà hướng đến lợi ích của người nghe.

Phần kệ cuối kinh nói ba vị tối thượng đã mở toang cửa bất tử và giúp đỡ nhiều người thoát ly khỏi ách nạn. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh mở cửa ấy cho thấy pháp được thuyết giảng là con đường mở ra cho người nghe tự bước đi, chứ không phải một sự ban tặng mà người nghe chỉ nhận lấy.

Ba hạng người trong kinh đều đem lại lợi ích cho số đông bằng cùng một việc, đó là thuyết pháp đầy đủ và thanh tịnh.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 84 (Bahujanahita Sutta, Itivuttaka 84). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 84 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp