Kinh Lừa Dối Dân Chúng Thứ Nhất
Paṭhamajananakuhana Sutta
Kinh này nói rõ đời sống Phạm hạnh không nhằm lừa dối hay nịnh hót quần chúng, không nhằm tìm lợi dưỡng và danh vọng, mà nhằm chế ngự và đoạn tận.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Đời sống Phạm hạnh không vì lừa dối quần chúng, nịnh hót quần chúng, lợi dưỡng hay danh vọng.
- Đời sống Phạm hạnh vì mục đích chế ngự và đoạn tận.
- Con đường này đưa đến thể nhập Niết-bàn và làm khổ lắng dịu khi thực hành đúng lời dạy.
Kinh Lừa Dối Dân Chúng Thứ Nhất nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo về mục đích của đời sống Phạm hạnh, rồi kết lại bằng một bài kệ nhắc lại cùng một ý.
Chữ brahmacariya, đời sống Phạm hạnh, chỉ đời sống tu tập theo lời dạy. Kinh đối chiếu những mục đích không phải là lý do sống đời sống ấy với mục đích thật sự là chế ngự và đoạn tận. Phần kệ nói con đường này đưa đến thể nhập Niết-bàn, và người dấn bước đúng như lời dạy sẽ làm khổ lắng dịu.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- brahmacariyaṁ
- đời sống Phạm hạnh
- janakuhanatthaṁ
- vì mục đích lừa dối quần chúng
- janalapanatthaṁ
- vì mục đích nịnh hót quần chúng
- saṁvaratthañceva
- và vì mục đích chế ngự
- pahānatthañcā
- và vì mục đích đoạn tận
- nibbānogadhagāminaṁ
- đưa đến thể nhập Niết-bàn
Kinh Lừa Dối Dân Chúng Thứ Nhất
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống, không vì mục đích lừa dối quần chúng, không vì mục đích nịnh hót quần chúng, không vì mục đích được lợi ích, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, nghĩ rằng: “Mong rằng quần chúng biết đến ta”. Này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được sống vì mục đích chế ngự và vì mục đích đoạn tận.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nghe:Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Nayidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ vussati janakuhanatthaṁ, na janalapanatthaṁ, na lābhasakkārasilokānisaṁsatthaṁ, na ‘iti maṁ jano jānātū’ti. Atha kho idaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ vussati saṁvaratthañceva pahānatthañcā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, this spiritual life is not lived for the sake of fawning or flattering people, nor for the benefit of possessions, honor, or popularity, nor thinking, ‘So let people know about me!’ This spiritual life is lived for the sake of restraint and giving up.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Với mục đích chế ngự,
Với mục đích đoạn tận,
Không kể người nói gì,
Thế Tôn đã thuyết giảng
Về nếp sống Phạm hạnh,
Một nếp sống đưa đến
Thể nhập vào Niết-bàn,
Đường này là con đường
Được các bậc Đại nhân,
Được các Đại ẩn sĩ,
Noi theo và thực hiện,
Và những ai dấn bước,
Chính trên con đường ấy,
Như đức Phật đã dạy,
Sẽ làm khổ lắng dịu,
Và thực hành làm đúng,
Như lời Đạo sư dạy.“Saṁvaratthaṁ pahānatthaṁ,
brahmacariyaṁ anītihaṁ;
Adesayi so bhagavā,
nibbānogadhagāminaṁ.
Esa maggo mahattehi,
anuyāto mahesibhi;
Ye ye taṁ paṭipajjanti,
yathā buddhena desitaṁ;
Dukkhassantaṁ karissanti,
satthusāsanakārino”ti.“The Buddha taught the spiritual life not because of legends, but for the sake of restraint and giving up, and because its objective is extinguishment. This is the path followed by the great souls, the great seers. Those who practice it as it was taught by the Buddha doing the Teacher’s bidding, make an end of suffering.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Aṭṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh đặt mục đích lên trước hành động. Một đời sống tu tập có thể mang hình thức giống nhau, nhưng lý do thúc đẩy bên trong mới quyết định ý nghĩa của nó. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, khi lý do là được biết đến hay được cung kính thì đời sống ấy đã lệch khỏi hướng kinh chỉ.
Chế ngự giữ tâm không chạy theo điều bất thiện, còn đoạn tận là buông điều bất thiện ấy xuống. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, giữ mà không buông thì gánh nặng vẫn còn, còn muốn buông mà không giữ thì tâm dễ quay lại chỗ cũ.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh (không phải lời kinh): một người giữ giới đều đặn nhưng luôn kể lại việc giữ giới của người ấy để được khen thì việc giữ giới ấy đang hướng về danh vọng hơn là hướng về đoạn tận.
Phần kệ nhắc rằng con đường này đã được các bậc Đại nhân và các Đại ẩn sĩ noi theo. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điều ấy cho bạn một thước đo giản dị: việc tu tập có đang làm khổ lắng dịu hay chỉ làm tên tuổi lớn thêm.
Đời sống Phạm hạnh có ý nghĩa khi hướng về chế ngự và đoạn tận, không phải khi hướng về được biết đến.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 35 (Paṭhamajananakuhana Sutta, Itivuttaka 35). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 35 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.