Phật Thuyết Như Vậy 25 · Iti 25

Kinh Nói Dối

Musāvāda Sutta

Kinh Nói Dối dạy rằng người nào vi phạm một pháp là rõ biết mà nói láo thì không có ác nghiệp nào mà người ấy không làm được.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người vi phạm một pháp là rõ biết mà nói láo.
  • Người ấy không kể đến đời sau.
  • Không có ác nghiệp nào mà người ấy không làm được.

Kinh Nói Dối thuộc tập Itivuttaka, tức Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ Kinh. Lời mở đầu của kinh ghi đây là lời của bậc A-la-hán, tức bậc đã đoạn tận các lậu hoặc. Kinh được nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia đang tu tập theo lời Phật, và chỉ nêu một pháp duy nhất rồi nói thẳng hậu quả của việc vi phạm pháp ấy. Phần xuôi nêu pháp ấy là rõ biết mà nói láo, phần kệ nhắc lại rằng người nói láo không kể đến đời sau, phần kết xác nhận ý nghĩa đã được nói đến.

Bài kinh rất ngắn và không vòng vo. Theo cách đọc của người viết, sự ngắn gọn này làm cho lời dạy dễ nhớ và dễ soi lại, và kinh chỉ giữ một điểm thay vì liệt kê nhiều điều ác.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
sampajānamusāvādo
biết rõ mà vẫn nói dối
ekadhammaṁ
một pháp
musāvādissa
của người nói dối
vitiṇṇaparalokassa
người không kể đến đời sau
pāpaṁ
điều ác

Kinh Nói Dối

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe.

Phàm một người nào đã vi phạm một pháp, Ta nói rằng không có ác nghiệp nào vị ấy không làm được. Thế nào là một pháp? Này các Tỷ-kheo, tức là rõ biết mà nói láo.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Ekadhammaṁ atītassa, bhikkhave, purisapuggalassa nāhaṁ tassa kiñci pāpakammaṁ akaraṇīyanti vadāmi. Katamaṁ ekadhammaṁ? Yadidaṁ, bhikkhave, sampajānamusāvādo”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, for an individual person who transgresses in one thing, there is no bad deed they would not do, I say. What one thing? It is this: telling a deliberate lie.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Người nào đã nói láo,
Là vi phạm một pháp,
Không kể đến đời sau,
Không ác gì không làm.
“Ekadhammaṁ atītassa,
musāvādissa jantuno;
Vitiṇṇaparalokassa,
natthi pāpaṁ akāriyan”ti.
“When a personage, spurning the hereafter, transgresses in just one thing— lying— there is no evil they would not do.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Pañcamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh chỉ nêu một pháp là rõ biết mà nói láo, rồi nói thẳng rằng người vi phạm pháp này thì không có ác nghiệp nào mà người ấy không làm được. Phần kệ giải thích thêm rằng người nói láo là người không kể đến đời sau.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, nói dối với sự biết rõ khác với nói sai do lầm lẫn: người biết rõ vẫn chọn nói khác sự thật rồi phải giữ lời dối ấy bằng những lời dối tiếp theo.

Một người nói dối đồng nghiệp về lý do nghỉ làm rồi phải bịa thêm nhiều lý do khác để che lời nói đầu tiên, và càng về sau càng khó dừng lại (không phải lời kinh).

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, giữ lời nói thật là giữ một điểm tựa cho mọi việc làm khác, và khi bạn thấy bản thân sắp nói khác sự thật dù đã biết rõ, đó là lúc nên dừng lại và nói đúng điều bạn biết.

Rõ biết mà nói láo là vi phạm một pháp mở ra mọi ác nghiệp, nên lời nói thật cần được giữ gìn.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 25 (Musāvāda Sutta, Itivuttaka 25). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 25 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp