Kinh Sống Khổ
Dukkhavihāra Sutta
Kinh Sống Khổ nói về hai pháp làm cho một vị Tỷ-kheo ngay trong hiện tại an trú đau khổ; kinh diễn tả trạng thái ấy là có hoạn nạn, có ưu não và có nhiệt não.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp là không hộ trì các căn và không tiết độ trong ăn uống thì ngay hiện tại an trú đau khổ.
- Sáu cửa là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; khi các căn không được hộ trì và ăn uống không tiết độ thì đau khổ về thân và đau khổ về tâm đều khởi lên.
- Người an trú khổ như vậy thì thân bị thiêu đốt, tâm bị thiêu đốt, dầu là đêm hay ngày.
Kinh Sống Khổ thuộc Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và nêu hai pháp làm cho đời sống ngay hiện tại trở thành đau khổ. Kinh mở đầu bằng lời kể lại điều Thế Tôn đã nói, rồi nêu hai pháp ấy một cách trực tiếp, và kết bằng bài kệ liệt kê sáu cửa và quả của việc không hộ trì.
Cấu trúc của kinh đi từ văn xuôi sang kệ. Phần văn xuôi ở đoạn 1.1 đến 2.8 nêu hai pháp và quả của chúng trong hiện tại và sau khi thân hoại mạng chung. Phần kệ ở đoạn 3.1 đến 5.4 nhắc lại sáu cửa, nói về ăn uống không tiết độ, và mô tả thân và tâm bị thiêu đốt cả ngày lẫn đêm.
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh nói về khổ ngay trong hiện tại trước khi nói về đời sau, nên người đọc có thể kiểm chứng điều dạy bằng chính đời sống hằng ngày của bản thân.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- indriya
- căn, giác quan
- aguttadvāratā
- không hộ trì các cửa
- bhojana
- ăn uống
- amattaññutā
- không tiết độ
- dukkha
- khổ, đau khổ
- duggati
- ác thú, cảnh giới xấu
- kāya
- thân
- ceto
- tâm
- bhikkhu
- Tỷ-kheo, vị xuất gia theo Phật
- dvāra
- cửa, lối vào của giác quan
Kinh Sống Khổ
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp, ngay trong hiện tại, an trú đau khổ có hoạn nạn, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú. Thế nào là hai? Không hộ trì các căn và không tiết độ trong ăn uống. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp này, ngay trong hiện tại an trú đau khổ, có hoạn nạn, có ưu não, có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, chờ đợi là ác thú.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.(…) Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme dukkhaṁ viharati savighātaṁ saupāyāsaṁ sapariḷāhaṁ; kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā. Katamehi dvīhi? Indriyesu aguttadvāratāya ca, bhojane amattaññutāya ca. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme dukkhaṁ viharati savighātaṁ saupāyāsaṁ sapariḷāhaṁ; kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, when a mendicant has two qualities they live unhappily in this very life—with distress, anguish, and fever— and when the body breaks up, after death, they can expect a bad rebirth. What two? Not guarding the sense doors and eating too much. When a mendicant possesses these two qualities they live unhappily in this very life—with distress, anguish, and fever— and when the body breaks up, after death, they can expect a bad rebirth.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Mắt, tai, mũi và lưỡi,
Kể cả thân và ý,
Những cửa này ở đây,
Tỷ-kheo không hộ trì,
Ăn uống không tiết độ,
Đau khổ về thân thể,
Các căn không hộ trì,
Đau khổ về tâm tư
Vị ấy phải thọ lãnh
Những đau khổ như vậy,
Thân thể bị thiêu đốt,
Tâm tư bị thiêu đốt,
Dầu là đêm hay ngày,
An trú khổ như vậy.“Cakkhu sotañca ghānañca,
jivhā kāyo tathā mano;
Etāni yassa dvārāni,
aguttāni ca bhikkhuno.
Bhojanamhi amattaññū,
indriyesu asaṁvuto;
Kāyadukkhaṁ cetodukkhaṁ,
dukkhaṁ so adhigacchati.
Ḍayhamānena kāyena,
Ḍayhamānena cetasā;
Divā vā yadi vā rattiṁ,
Dukkhaṁ viharati tādiso”ti.“Eye, ear, nose, tongue, body, and likewise mind: a mendicant who leaves these sense doors unguarded— immoderate in eating, sense faculties unrestrained— reaps suffering both physical and mental. Burning in body, burning in mind, by day or by night such a person lives in suffering.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Paṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nêu hai pháp đi đôi với nhau: không hộ trì các căn và không tiết độ trong ăn uống. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hai pháp này liên quan mật thiết vì cả hai đều là sự buông thả trước những gì đi vào thân và tâm, một bên qua sáu cửa giác quan và một bên qua việc ăn uống.
Bài kệ liệt kê sáu cửa là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Khi các căn không được hộ trì và ăn uống không tiết độ thì đau khổ về thân thể và đau khổ về tâm tư đều khởi lên. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hộ trì không có nghĩa là đóng kín các cửa mà là biết rõ những gì đang đi vào và không để chúng lôi kéo tâm đi theo.
Ăn uống không tiết độ được nêu riêng bên cạnh sáu cửa. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, việc ăn uống tưởng là chuyện nhỏ của thân nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến sự nặng nề của thân và sự mờ mịt của tâm, nên kinh đặt nó ngang hàng với việc hộ trì các căn.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan hay vừa ăn vừa xem điện thoại đến khuya, ăn quá no rồi khó ngủ. Sáng hôm sau người mệt và tâm bứt rứt cả ngày, và khi chị ăn chậm lại và tắt điện thoại trong bữa ăn thì giấc ngủ và tâm trạng đều nhẹ hơn.
Bài kệ kết bằng hình ảnh thân bị thiêu đốt và tâm bị thiêu đốt, dầu là đêm hay ngày. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh thiêu đốt nói về sự bứt rứt kéo dài chứ không phải một cơn đau thoáng qua, và sự kéo dài ấy chính là điều làm cho đời sống trở thành an trú trong khổ.
Không hộ trì các căn và không tiết độ trong ăn uống thì ngay hiện tại đã an trú trong khổ.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 28 (Dukkhavihāra Sutta, Itivuttaka 28). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 28 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.