Pháp Cú, kệ 360–382 · Dhp 360–382

Kinh Pháp Cú, Phẩm Tỷ-kheo

Dhammapada, Bhikkhuvagga

Còn gọi là: Phẩm Tỳ Kheo

Hai mươi ba bài kệ phác họa chân dung người xuất gia: biết giữ gìn các căn, vui với Pháp, biết đủ, và tự mình làm chỗ dựa cho chính mình.

Trước khi đọc kinh

Phẩm thứ hai mươi lăm của Kinh Pháp Cú mang tên Bhikkhu, Tỷ-kheo. Các bài kệ nói với người xuất gia, nhưng phần lớn cũng là lời nhắc thiết thực cho người tại gia. Hai bài kệ mở đầu nêu bảy chỗ cần giữ gìn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, lời nói và ý; ai giữ gìn được mọi chỗ thì thoát khỏi tất cả khổ đau (kệ 360–361). Theo chú giải, có năm vị Tỷ-kheo, mỗi vị chuyên giữ một căn, cãi nhau xem căn của ai khó giữ nhất; Đức Phật dạy rằng căn nào cũng khó giữ, và sau thời Pháp cả năm vị chứng quả Nhập lưu. Kệ 362 nói về người biết tự chế nơi tay, chân, lời nói; theo chú giải, bài kệ được nói khi một Tỷ-kheo trẻ, đang đứng bên bờ sông Aciravatī, ném hòn sỏi trúng mắt một con thiên nga bay ngang trời. Kệ 363 khen người biết giữ miệng, nói lời có trí; theo chú giải, bài kệ gắn với Tỷ-kheo Kokālika, người đã buông lời phỉ báng hai vị đại đệ tử, và Đức Phật kể chuyện tiền thân về con rùa được hai con thiên nga ngậm cây gậy chở bay đi, vì mở miệng nói mà rơi xuống đất vỡ làm đôi.

Kệ 364 nói về người lấy Pháp làm vườn, vui thích nơi Pháp, thường nhớ nghĩ đến Pháp. Theo chú giải, khi Đức Phật báo trước rằng bốn tháng nữa Ngài sẽ nhập Niết-bàn, nhiều Tỷ-kheo vây quanh Ngài không cầm được nước mắt; riêng Tỷ-kheo Dhammārāma ở một mình, suy ngẫm những lời Ngài dạy, mong chứng quả A-la-hán khi Thế Tôn còn tại thế. Đức Phật khen vị ấy và dạy rằng người dâng hoa, dâng hương chưa phải là người thật sự tôn kính Ngài, mà chính người thực hành Pháp mới là người tôn kính Ngài. Kệ 365–366 nhắc chớ xem thường phần mình nhận được, chớ thèm muốn phần người. Nhóm kệ 368–376 là một chuỗi lời dạy liền mạch: an trú trong tâm từ (kệ 368), tát cạn chiếc thuyền cho nhẹ, cắt đứt tham và sân (kệ 369), không có thiền với người thiếu trí tuệ, không có trí tuệ với người không tu thiền (kệ 372), quán sự sinh diệt của các uẩn (kệ 374), và bước khởi đầu là giữ gìn các căn, biết đủ, giữ giới, gần gũi bạn lành (kệ 375–376). Theo chú giải, mẹ của Trưởng lão Soṇa Koṭikaṇṇa đi nghe con giảng Pháp suốt đêm, trong khi chín trăm tên trộm đào đường hầm vào nhà bà; người hầu ba lần chạy đến báo, bà đều bảo cứ để họ lấy, đừng làm gián đoạn việc nghe Pháp. Tên đầu đảng nghe vậy, ra lệnh trả lại tất cả, cả bọn xin bà tha lỗi rồi xin xuất gia; Đức Phật từ Kỳ Viên (Jetavana) nói các bài kệ này cho các vị ấy.

Kệ 377 khuyên buông bỏ tham và sân như cây hoa nhài buông những cánh hoa đã héo; theo chú giải, năm trăm vị Tỷ-kheo thấy hoa nhài sáng nở chiều rụng, bèn quyết tâm giải thoát trước khi hoa lìa cành. Kệ 379–380 là lời dạy tự lực: hãy tự mình thúc giục mình, tự mình xét lại mình; chính mình là chỗ dựa của mình, còn ai khác làm chỗ dựa được. Theo chú giải, Trưởng lão Naṅgalakula vốn là người làm thuê nghèo, khi xuất gia đã treo chiếc cày và mảnh vải rách lên một cành cây; mỗi lần chán nản muốn hoàn tục, vị ấy lại đến gốc cây ấy tự răn mình, ai hỏi thì nói là đi gặp thầy, và chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Kệ 381, theo chú giải, nói với Trưởng lão Vakkali, người chỉ thích ngắm nhìn thân tướng Đức Phật; Ngài dạy rằng ai thấy Pháp là thấy Ngài (lời này có trong Tương Ưng Bộ, SN 22.87), rồi tạm cho vị ấy lui ra; khi Vakkali đau khổ lên núi Linh Thứu (Gijjhakūṭa), Đức Phật hiện ra và nói bài kệ này. Phẩm kết bằng hình ảnh vị Tỷ-kheo trẻ dốc lòng với Pháp, soi sáng thế gian như vầng trăng thoát khỏi mây (kệ 382); theo chú giải, đó là Sa-di Sumana, đệ tử của Trưởng lão A-na-luật (Anuruddha), được Đức Phật cho thọ đại giới khi mới bảy tuổi.

Ý chính

  • Giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, lời, ý; ai giữ gìn mọi chỗ thì thoát khỏi mọi khổ đau (kệ 360–361).
  • Chớ xem thường phần mình nhận được, chớ sống mà thèm muốn phần người (kệ 365–366).
  • Hãy tát cạn chiếc thuyền, cắt đứt tham và sân thì sẽ đến Niết-bàn (kệ 369).
  • Không có thiền với người thiếu trí tuệ, không có trí tuệ với người không tu thiền (kệ 372).
  • Giữ gìn các căn, biết đủ, giữ giới, gần gũi bạn lành là bước khởi đầu (kệ 375–376).
  • Chính mình là chỗ dựa của mình, hãy điều phục mình như người lái buôn điều phục ngựa quý (kệ 380).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
bhikkhu
Tỷ-kheo, người xuất gia
saṁvara
sự giữ gìn, phòng hộ
santuṭṭhi
biết đủ
mamāyita
ý nghĩ “của tôi”
jhāna
thiền, tầng thiền
udayabbaya
sự sinh và diệt
pātimokkha
giới bổn Pātimokkha
nātha
chỗ dựa, nơi nương tựa

Tích truyện các bài kệĐức Phật nói mỗi bài kệ trong một hoàn cảnh riêng. Đọc 12 tích truyện của phẩm Tỷ-kheo theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Thiền viện Viên Chiếu dịch): xem các tích ›

Kinh Pháp Cú, Phẩm Tỷ-kheo

Chuyện năm vị Tỷ-kheoPañcabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›

360.1Lành thay, phòng hộ mắt!Cakkhunā saṁvaro sādhu,Restraint of the eye is good;

360.2Lành thay, phòng hộ tai!sādhu sotena saṁvaro;good is restraint of the ear;

360.3Lành thay, phòng hộ mũi!Ghānena saṁvaro sādhu,restraint of the nose is good;

360.4Lành thay, phòng hộ lưỡi.sādhu jivhāya saṁvaro.good is restraint of the tongue.

361.1Lành thay phòng hộ thân!Kāyena saṁvaro sādhu,Restraint of the body is good;

361.2Lành thay, phòng hộ lời,sādhu vācāya saṁvaro;good is restraint of speech;

361.3Lành thay, phòng hộ ý.Manasā saṁvaro sādhu,restraint of mind is good;

361.4Lành thay, phòng tất cả.sādhu sabbattha saṁvaro;everywhere, restraint is good.

361.5Tỳ-kheo phòng tất cả,Sabbattha saṁvuto bhikkhu,The mendicant restrained everywhere

361.6Thoát được mọi khổ đau.sabbadukkhā pamuccati.is released from all suffering.

Chuyện vị Tỷ-kheo ném chết thiên ngaHaṁsaghātakabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›

362.1Người chế ngự tay chân,Hatthasaṁyato pādasaṁyato,One restrained in hand and foot,

362.2Chế ngự lời và đầu,Vācāsaṁyato saṁyatuttamo;and in speech, the supreme restraint;

362.3Vui thích nội thiền định,Ajjhattarato samāhito,happy inside, serene,

362.4Độc thân, biết vừa đủ,
Thật xứng gọi tỳ-kheo.
Eko santusito tamāhu bhikkhuṁ.solitary, content, I call a mendicant.

Chuyện Tỷ-kheo KokālikaKokālikavatthu Đọc tích truyện ›

363.1Tỳ-kheo chế ngự miệng,Yo mukhasaṁyato bhikkhu,When a mendicant of restrained mouth,

363.2Vừa lời, không cống cao,mantabhāṇī anuddhato;thoughtful in counsel, not restless,

363.3Khi trình bày pháp nghĩa,Atthaṁ dhammañca dīpeti,explains the text and its meaning,

363.4Lời lẽ dịu ngọt ngào.madhuraṁ tassa bhāsitaṁ.their words are sweet.

Chuyện Trưởng lão DhammārāmaDhammārāmattheravatthu Đọc tích truyện ›

364.1Vị tỳ-kheo thích Pháp,Dhammārāmo dhammarato,Delighting in the teaching, enjoying the teaching,

364.2Mến pháp, suy tư Pháp.dhammaṁ anuvicintayaṁ;contemplating the teaching,

364.3Tâm tư niệm chánh Pháp,Dhammaṁ anussaraṁ bhikkhu,a mendicant who recollects the teaching

364.4Không rời bỏ chánh Pháp.saddhammā na parihāyati.doesn’t fall away from the true teaching.

Chuyện vị Tỷ-kheo lui tới phe đối nghịchVipakkhasevakabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›

365.1Không khinh điều mình được,Salābhaṁ nātimaññeyya,A well-off mendicant ought not look down

365.2Không ganh người khác được,nāññesaṁ pihayaṁ care;on others, nor should they be envious.

365.3Tỳ-kheo ganh tỵ người,Aññesaṁ pihayaṁ bhikkhu,A mendicant who envies others

365.4Không sao chứng Thiền định.samādhiṁ nādhigacchati.does not achieve immersion.

366.1Tỳ-kheo dù được ít,Appalābhopi ce bhikkhu,If a mendicant is poor in offerings,

366.2Không khinh điều mình được,salābhaṁ nātimaññati;the well-to-do ought not look down on them.

366.3Sống thanh tịnh không nhác,Taṁ ve devā pasaṁsanti,For the gods indeed praise them,

366.4Chư thiên khen vị này.suddhājīviṁ atanditaṁ.who are tireless and pure of livelihood.

Chuyện vị Bà-la-môn dâng năm phần đầuPañcaggadāyakabrāhmaṇavatthu Đọc tích truyện ›

367.1Hoàn toàn, đối danh sắc,Sabbaso nāmarūpasmiṁ,One who has no sense of ownership

367.2Không chấp Ta, của Ta.yassa natthi mamāyitaṁ;in the whole realm of name and form,

367.3Không chấp, không sầu não.Asatā ca na socati,who does not grieve for that which is not,

367.4Thật xứng danh Tỳ-kheo.sa ve “bhikkhū”ti vuccati.is said to be a mendicant.

Chuyện nhiều vị Tỷ-kheoSambahulabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›

368.1Tỳ-kheo trú Từ Bi,Mettāvihārī yo bhikkhu,A mendicant who meditates on love,

368.2Tín thành giáo Pháp Phật,pasanno buddhasāsane;devoted to the Buddha’s teaching,

368.3Chứng cảnh giới tịch tỉnh.Adhigacche padaṁ santaṁ,would realize the peaceful state,

368.4Các hạnh an tịnh lạc.saṅkhārūpasamaṁ sukhaṁ.the blissful stilling of conditions.

369.1Tỳ-kheo, tát thuyền này,Siñca bhikkhu imaṁ nāvaṁ,Bail out this boat, mendicant!

369.2Thuyền không, nhẹ đi mau.sittā te lahumessati;When bailed out it will float lightly.

369.3Trừ tham, diệt sân hận,Chetvā rāgañca dosañca,Having cut off desire and hate,

369.4Tất chứng đạt Niết-bàn.tato nibbānamehisi.you shall reach extinguishment.

370.1Đoạn năm, từ bỏ năm,Pañca chinde pañca jahe,Five to cut, five to drop,

370.2Tu tập năm tối thượng,pañca cuttari bhāvaye;and five more to develop.

370.3Tỳ-kheo cắt năm trói,Pañca saṅgātigo bhikkhu,When a mendicant slips five chains

370.4Xứng danh vượt “bộc lưu”.“oghatiṇṇo”ti vuccati.they’re said to have crossed the flood.

371.1Tỳ-kheo, hãy tu thiền,Jhāya bhikkhu mā pamādo,Practice absorption, don’t be negligent!

371.2Chớ buông lung phóng dật,Mā te kāmaguṇe ramessu cittaṁ;Don’t let the mind delight in the senses!

371.3Tâm chớ đắm say dục,Mā lohaguḷaṁ gilī pamatto,Don’t heedlessly swallow a hot iron ball!

371.4Phóng dật, nuốt sắt nóng
Bị đốt, chớ than khổ!
Mā kandi “dukkhamidan”ti dayhamāno.And when it burns, don’t cry, “Oh, the pain!”

372.1Không trí tuệ, không thiền,Natthi jhānaṁ apaññassa,No absorption for one without wisdom,

372.2Không thiền, không trí tuệ.paññā natthi ajhāyato;no wisdom for one without absorption.

372.3Người có thiền có tuệ,Yamhi jhānañca paññā ca,But one with absorption and wisdom—

372.4Nhất định gần Niết-bàn.sa ve nibbānasantike.they have truly drawn near to extinguishment.

373.1Bước vào ngôi nhà trống,Suññāgāraṁ paviṭṭhassa,A mendicant who enters an empty hut

373.2Tỳ-kheo tâm an tịnh,santacittassa bhikkhuno;with mind at peace

373.3Thọ hưởng vui siêu nhân,Amānusī rati hoti,finds a superhuman delight

373.4Tịnh quán theo chánh pháp.sammā dhammaṁ vipassato.as they rightly discern the Dhamma.

374.1Người luôn luôn chánh niệm,Yato yato sammasati,Whenever they are mindful

374.2Sự sanh diệt các uẩn,khandhānaṁ udayabbayaṁ;of the rise and fall of the aggregates,

374.3Được hoan hỷ, hân hoan,Labhatī pītipāmojjaṁ,they feel rapture and joy:

374.4Chỉ bậc bất tử biết.amataṁ taṁ vijānataṁ.that is freedom from death for one who knows.

375.1Đây Tỳ-kheo có trí,Tatrāyamādi bhavati,This is the very start of the path

375.2Tu tập pháp căn bảnidha paññassa bhikkhuno;for a wise mendicant here:

375.3Hộ căn, biết vừa đủ,Indriyagutti santuṭṭhi,guarding the senses, contentment,

375.4Gìn giữ căn bản giới,pātimokkhe ca saṁvaro.and restraint in the monastic code.

376.1Thường gần gũi bạn lành,Mitte bhajassu kalyāṇe,Mix with spiritual friends,

376.2Sống thanh tịnh tinh cần.suddhājīve atandite;who are tireless and pure of livelihood.

376.3Giao thiệp khéo thân thiện,Paṭisanthāravutyassa,Share what you have with others,

376.4Cử chỉ mực đoan trang.ācārakusalo siyā;being skillful in your conduct.

376.5Do vậy hưởng vui nhiều,Tato pāmojjabahulo,And when you’re full of joy,

376.6Sẽ dứt mọi khổ đau.dukkhassantaṁ karissati.you’ll make an end to suffering.

Chuyện năm trăm vị Tỷ-kheoPañcasatabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›

377.1Như hoa Vassika,Vassikā viya pupphāni,As a jasmine sheds

377.2Quăng bỏ cánh úa tàn,maddavāni pamuñcati;its withered flowers,

377.3Cũng vậy vị Tỳ-kheo,Evaṁ rāgañca dosañca,O mendicants,

377.4Hãy giải thoát tham sân.vippamuñcetha bhikkhavo.shed greed and hate.

Chuyện Trưởng lão SantakāyaSantakāyattheravatthu Đọc tích truyện ›

378.1Thân tịnh, lời an tịnh,Santakāyo santavāco,Calm in body, calm in speech,

378.2An tịnh, khéo thiền tịnh.santavā susamāhito;peaceful and serene;

378.3Tỳ-kheo bỏ thế vật,Vantalokāmiso bhikkhu,a mendicant who’s spat out the world’s bait

378.4Xứng danh bậc tịch tịnh.“upasanto”ti vuccati.is said to be one at peace.

Chuyện Trưởng lão NaṅgalakulaNaṅgalakulattheravatthu Đọc tích truyện ›

379.1Tự mình chỉ trích mình,Attanā codayattānaṁ,Urge yourself on,

379.2Tự mình dò xét mình,paṭimaṁsetha attanā;reflect on yourself.

379.3Tỳ-kheo tự phòng hộ,So attagutto satimā,A mendicant self-controlled and mindful

379.4Chánh niệm trú an lạc.sukhaṁ bhikkhu vihāhisi.will always dwell in happiness.

380.1Tự mình y chỉ mình,Attā hi attano nātho,Self is indeed the lord of self,

380.2(dị bản)ko hi nātho paro siyā;for who else would be one’s lord?

380.3Tự mình đi đến mình,Attā hi attano gati,Self is indeed the home of self,

380.4Vậy hãy tự điều phục,tasmā saṁyamamattānaṁ;so restrain yourself,

380.5Như khách buôn ngựa hiền.Assaṁ bhadraṁva vāṇijo.as a merchant his thoroughbred steed.

Chuyện Trưởng lão VakkaliVakkalittheravatthu Đọc tích truyện ›

381.1Tỳ-kheo nhiều hân hoan,Pāmojjabahulo bhikkhu,A monk full of joy

381.2Tịnh tín giáo pháp Phật,pasanno buddhasāsane;trusting in the Buddha’s teaching,

381.3Chứng cảnh giới tịch tịnh,Adhigacche padaṁ santaṁ,would realize the peaceful state,

381.4Các hạnh an tịnh lạc.saṅkhārūpasamaṁ sukhaṁ.the blissful stilling of conditions.

Chuyện Sa-di SumanaSumanasāmaṇeravatthu Đọc tích truyện ›

382.1Tỳ-kheo tuy tuổi nhỏYo have daharo bhikkhu,A young mendicant

382.2Siêng tu giáo pháp Phật,yuñjati buddhasāsane;devoted to the Buddha’s teaching,

382.3Soi sáng thế gian này,Somaṁ lokaṁ pabhāseti,shines upon this world,

382.4Như trăng thoát khỏi mây.abbhā muttova candimā.like the moon freed from clouds.

382.5Bhikkhuvaggo pañcavīsatimo.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Pháp Cú, kệ 360–382 (Dhammapada, Bhikkhuvagga). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Dhp 360–382 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản số hoá trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp