Kinh Năm Điềm Báo Trước
Pañcapubbanimitta Sutta
Kinh Năm Điềm Báo Trước kể lại năm tướng xuất hiện khi một Thiên nhân sắp rời bỏ thân chư Thiên, và ba lời chư Thiên nói để cổ vũ vị ấy hướng đến cõi lành.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Khi một Thiên nhân sắp mệnh chung, năm tướng xuất hiện gồm vòng hoa héo úa, áo quần uế nhiễm, mồ hôi từ nách, thân sắc xấu xí và không hoan hỷ tại chỗ ngồi.
- Chư Thiên nói ba lời cổ vũ, khuyên vị Thiên nhân hãy đi đến cõi lành, hãy nhận được những gì khéo nhận được và hãy khéo an trú.
- Được địa vị làm người là đi đến cõi lành, được lòng tin trong Pháp và Luật là nhận được những gì khéo nhận được, và lòng tin an trú vững chắc là khéo an trú.
Kinh Năm Điềm Báo Trước thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 83. Bài kinh mở đầu bằng việc nêu năm tướng xuất hiện trước khi một Thiên nhân mệnh chung và rời bỏ thân chư Thiên. Sau đó kinh kể lại ba lời cổ vũ mà chư Thiên nói với vị Thiên tử sắp mệnh chung. Chữ devo nghĩa là Thiên nhân, chữ saddhā nghĩa là lòng tin. Phần giữa kinh là cuộc đối thoại, trong đó một vị Tỷ-kheo hỏi Thế Tôn về ý nghĩa của ba lời cổ vũ, và Thế Tôn giải thích từng lời.
Phần kệ cuối kinh nhắc lại ba lời cổ vũ bằng hình ảnh sinh động. Vị Thiên nhân được khuyên hãy đi đến cõi lành và cộng trú với loài người, hãy lấy được lòng tin vô thượng trong Chánh pháp vi diệu, và hãy an trú trong lòng tin ấy cho đến trọn sanh mạng. Phần kệ cũng nhắc đến việc từ bỏ thân làm ác, lời nói ác và ý nghĩ ác, đồng thời làm nhiều việc lành và bố thí rộng rãi.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- devo
- Thiên nhân
- saddhā
- lòng tin
- sugatiṁ
- cõi lành
- manussattaṁ
- địa vị làm người
- dhammavinaye
- Pháp và Luật
- saddhamme
- Chánh pháp
- kusalaṁ
- việc lành
- puññaṁ
- công đức
Kinh Năm Điềm Báo Trước
1Này các Tỷ-kheo, khi nào một Thiên nhân mệnh chung từ bỏ thân chư Thiên, có năm tướng xuất hiện ra trước: “Các vòng hoa héo úa, áo quần bị uế nhiễm, mồ hôi chảy ra từ nách, thân sắc trở thành xấu xí, Thiên nhân không hoan hỷ tại chỗ ngồi chư Thiên”. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên sau khi biết Thiên tử này mệnh chung, nói ba lời để cổ vũ: “Từ đây, Hiền giả hãy đi đến cõi lành! Sau khi đi đến cõi lành, hãy nhận được những gì khéo nhận được. Sau khi nhận được những gì khéo nhận, hãy khéo an trú”.
Được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, thế nào được gọi là đi đến cõi lành của chư Thiên? Bạch Thế Tôn, thế nào được gọi là nhận được những gì khéo nhận được của chư Thiên? Bạch Thế Tôn, thế nào được gọi là khéo an trú của chư Thiên?
– Này các Tỷ-kheo, được địa vị làm người được gọi là đi đến cõi lành của chư Thiên. Khi được địa vị làm người, được lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nhận được những gì khéo nhận được của chư Thiên. Khi lòng tin được nhập vào, được an trú thành gốc rễ, kiên trì, không bị làm tan nát bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ác ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời thì được gọi là khéo an trú của chư Thiên.
Khi nào vị Thiên nhân,
Từ bỏ thân chư Thiên,
Vì thọ mạng đã hết,
Ba tiếng được thốt lên,
Do chư Thiên an ủi,
Cổ vũ khiến hoan hỷ.
Từ đây, này Hiền giả,
Hãy đi đến cõi lành,
Cộng trú với loài Người.
Khi đã được làm người,
Trong Chánh pháp vi diệu,
Hãy lấy được lòng tin,
Lòng tin ấy vô thượng.
Hiền giả hãy thâm nhập,
Vào trong lòng tin ấy,
An trú thành gốc rễ,
Cho đến trọn sanh mạng,
Không bị làm tan nát,
Trong điệu pháp khéo giảng.
Từ bỏ thân làm ác,
Từ bỏ lời nói ác,
Từ bỏ ý nghĩ ác,
Và mọi hành động khác,
Được xem là thuộc ác.
Thân làm các hạnh lành,
Làm nhiều lời nói lành,
Sau khi ý nghĩ lành,
Vô lượng, không sanh y.
Rồi làm các công đức
Cho sanh y đời sau
Làm xong nhiều công đức
Với bố thí rộng rãi,
Rồi an trú người khác,
Bị tử vong chi phối,
Trong đời sống Phạm hạnh,
Trong Chánh pháp vi diệu.
Với lòng từ mẫn này,
Chư Thiên khi biết được.
Một Thiên nhân mệnh chung,
Liền nói lời cổ vũ.
Thiên nhân hãy đến đây,
Hãy đến lại nhiều lần.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Yadā, bhikkhave, devo devakāyā cavanadhammo hoti, pañcassa pubbanimittāni pātubhavanti— mālā milāyanti, vatthāni kilissanti, kacchehi sedā muccanti, kāye dubbaṇṇiyaṁ okkamati, sake devo devāsane nābhiramatīti. Tamenaṁ, bhikkhave, devā ‘cavanadhammo ayaṁ devaputto’ti iti viditvā tīhi vācāhi anumodenti: ‘ito, bho, sugatiṁ gaccha. Sugatiṁ gantvā suladdhalābhaṁ labha. Suladdhalābhaṁ labhitvā suppatiṭṭhito bhavāhī’”ti. Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “kiṁ nu kho, bhante, devānaṁ sugatigamanasaṅkhātaṁ. Kiñca, bhante, devānaṁ suladdhalābhasaṅkhātaṁ. Kiṁ pana, bhante, devānaṁ suppatiṭṭhitasaṅkhātan”ti? “Manussattaṁ kho, bhikkhu, devānaṁ sugatigamanasaṅkhātaṁ. Yaṁ manussabhūto samāno tathāgatappavedite dhammavinaye saddhaṁ paṭilabhati; idaṁ kho, bhikkhu, devānaṁ suladdhalābhasaṅkhātaṁ. Sā kho panassa saddhā niviṭṭhā hoti mūlajātā patiṭṭhitā daḷhā asaṁhāriyā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ; idaṁ kho, bhikkhu, devānaṁ suppatiṭṭhitasaṅkhātan”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Yadā devo devakāyā, cavati āyusaṅkhayā; Tayo saddā niccharanti, devānaṁ anumodataṁ. ‘Ito bho sugatiṁ gaccha, manussānaṁ sahabyataṁ; Manussabhūto saddhamme, labha saddhaṁ anuttaraṁ. Sā te saddhā niviṭṭhassa, mūlajātā patiṭṭhitā; Yāvajīvaṁ asaṁhīrā, saddhamme suppavedite. Kāyaduccaritaṁ hitvā, vacīduccaritāni ca; Manoduccaritaṁ hitvā, yañcaññaṁ dosasañhitaṁ. Kāyena kusalaṁ katvā, vācāya kusalaṁ bahuṁ; Manasā kusalaṁ katvā, appamāṇaṁ nirūpadhiṁ. Tato opadhikaṁ puññaṁ, katvā dānena taṁ bahuṁ; Aññepi macce saddhamme, brahmacariye nivesaya’. Imāya anukampāya, devā devaṁ yadā vidū; Cavantaṁ anumodenti, ehi deva punappunan”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Catutthaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, when a god is due to pass away from the realm of the gods, five harbingers appear. Their flower-garlands wither; their clothes become soiled; they sweat from the armpits; their physical appearance deteriorates; and they no longer delight in their heavenly throne. When the other gods know that that godling is due to pass away, they wish them well in three ways: ‘Sir, may you go from here to a good place! When you have gone to a good place, may you be blessed with good fortune! When you have been blessed with good fortune, may you become well grounded!’” When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Sir, what do the gods reckon to be going to a good place? What do they reckon to be blessed with good fortune? What do they reckon to become well grounded?” “It is human existence, mendicant, that the gods reckon to be going to a good place. When a human being gains faith in the teaching and training proclaimed by the Realized One, that is what the gods reckon to be blessed with good fortune. When that faith in the Realized One is settled, rooted, and planted deep; when it’s strong and can’t be shifted by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world, that is what the gods reckon to become well grounded.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “When, with the fading of life, a god passes from the realm of the gods, the gods utter three cries of well-wishing: ‘Go, worthy sir, from here to a good place, in the company of humans. As a human being, gain supreme faith in the true teaching. May that faith of yours be settled, with roots planted deep, unfaltering all life long in the true teaching so well proclaimed. Having given up bad conduct by way of body, speech, and mind, and whatever else is corrupt; and having done much good, by way of body, speech, and mind, limitless, free of attachments; then, having made much worldly merit by giving gifts, establish other colleagues in the true teaching, the spiritual life.’ It is due to such sympathy that when the gods know a god is due to pass away, they wish them well: ‘Come back, god, again and again!’” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Điểm đáng chú ý nhất của Kinh Năm Điềm Báo Trước nằm ở chỗ cõi lành mà chư Thiên chúc cho nhau lại chính là địa vị làm người. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điều này đảo ngược suy nghĩ thường tình cho rằng cõi cao hơn luôn tốt hơn, vì giá trị của kiếp người nằm ở cơ hội gặp được Pháp và Luật rồi giữ lòng tin trong đó.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người đang sống trong điều kiện đầy đủ và an nhàn, nhưng nhận ra đời sống ấy không giúp người ấy hiểu rõ điều thiện và điều ác, nên người ấy tìm đến việc học pháp và tập sống ngay thẳng mỗi ngày. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung vì sao địa vị làm người được xem là cõi lành (không phải lời kinh).
Ba lời cổ vũ cũng có thứ tự rõ ràng, từ việc đến cõi lành, đến việc nhận được lòng tin, rồi đến việc an trú vững chắc trong lòng tin ấy. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thứ tự này cho thấy lòng tin không dừng ở cảm xúc nhất thời, mà cần được nhập vào, an trú thành gốc rễ và kiên trì trước mọi tác động từ bên ngoài.
Phần kệ cuối kinh mở rộng lời khuyên sang đời sống cụ thể, từ bỏ các việc ác về thân, lời nói và ý nghĩ, đồng thời làm nhiều việc lành và bố thí rộng rãi. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, phần này nhắc rằng lòng tin vững chắc luôn đi cùng với việc làm lành đều đặn, chứ không tách rời khỏi đời sống hằng ngày.
Cõi lành mà chư Thiên chúc nhau trong kinh chính là địa vị làm người, nơi lòng tin trong Pháp và Luật có thể an trú thành gốc rễ.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 83 (Pañcapubbanimitta Sutta, Itivuttaka 83). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 83 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.