Tương Ưng Bộ 3.25 · SN 3.25

Kinh Ví Dụ Núi Đá

Pabbatūpama Sutta

Còn gọi là: Kinh Ví Dụ Hòn Núi

Đức Phật hỏi vua Ba-tư-nặc: nếu bốn ngọn núi lăn tới từ bốn phương, nghiền nát mọi thứ, ngài sẽ làm gì? Câu trả lời của nhà vua là bài học cho mọi người đang bận rộn.

Trước khi đọc kinh

Kinh Ví Dụ Núi Đá (Pabbatūpama Sutta) là bài cuối cùng của Tương Ưng Kosala trong Tương Ưng Bộ. Vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) nước Kiều-tát-la (Kosala) đến gặp Đức Thế Tôn ở thành Xá-vệ (Sāvatthī) giữa trưa. Được hỏi từ đâu đến, nhà vua thật thà thưa rằng mình vừa bận rộn với những việc của các vị vua say sưa quyền lực, bị lòng ham muốn dục lạc chi phối, đang cai trị một vùng đất rộng lớn đã chinh phục được (đoạn 1.3–1.4).

Đức Phật không giảng ngay mà đặt một câu hỏi giả định. Một người đáng tin từ phương đông đến báo: có một ngọn núi lớn cao ngang mây đang lăn tới, nghiền nát mọi sinh vật; rồi người thứ hai, thứ ba, thứ tư lần lượt đến từ phương tây, phương bắc, phương nam, báo cùng một tin (đoạn 2.2–2.13). Khi hiểm họa như thế xảy đến, mà thân người lại khó được, đại vương sẽ làm gì? Nhà vua đáp: còn biết làm gì ngoài việc sống theo Pháp, sống an hòa, làm điều thiện, làm việc phước (đoạn 3.1). Lúc ấy Đức Phật mới nói thẳng: già và chết đang lăn tới đè lên đại vương (đoạn 4.1). Chính nhà vua tự kể ra: voi, ngựa, xe, bộ binh, mưu kế của các đại thần, kho vàng bạc đủ để mua chuộc kẻ thù, tất cả đều không còn đất dụng võ trước già và chết (đoạn 4.4–4.14).

Bài kệ cuối kinh vẽ lại hình ảnh ấy: như những khối núi đá cao chạm trời lăn tới từ bốn phía, già và chết đè lên mọi loài, từ vua chúa, Bà-la-môn, thương nhân đến người làm thuê, không chừa một ai (đoạn 6.1–7.6). Vì vậy người có trí đặt niềm tin nơi Phật, Pháp, Tăng; ai sống theo Pháp bằng thân, lời, ý thì được ngợi khen ngay đời này và vui hưởng cõi trời đời sau (đoạn 9.1–10.4). Nhiều người trong chúng ta hẹn việc lành đến lúc rảnh, lúc con cái lớn, lúc về hưu. Bài kinh nhắc nhẹ rằng ngọn núi không chờ ai, và việc đáng làm nhất có thể bắt đầu ngay trong ngày bận rộn này. Kinh Thiên Sứ (AN 3.36) cũng nhắc cùng một điều qua hình ảnh người già, người bệnh và người chết.

Ý chính

  • Vua Ba-tư-nặc thật thà nhận mình bận rộn với việc của những vị vua say quyền lực (1.4).
  • Bốn ngọn núi cao ngang mây lăn tới từ bốn phương, nghiền nát mọi sinh vật (2.5–2.13).
  • Khi thân người khó được, chỉ còn sống theo Pháp, làm điều thiện, làm việc phước (3.1).
  • Già và chết đang lăn tới đè lên mỗi người (4.1).
  • Voi ngựa, mưu kế, vàng bạc đều không còn đất dụng võ trước già và chết (4.4–4.14).
  • Người có trí đặt niềm tin nơi Phật, Pháp, Tăng và sống theo Pháp bằng thân, lời, ý (9.3–10.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
pabbata
núi
upamā
ví dụ
jarāmaraṇa
già và chết
adhivattati
lăn tới đè lên
dhammacariyā
sống theo Pháp
samacariyā
sống an hòa, ngay thẳng
puññakiriyā
làm việc phước
manussatta
thân người, kiếp người

Kinh Ví Dụ Núi Đá

1Nhân duyên ở Sāvatthi.

Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:

—Thưa Đại vương, Đại vương đi từ đâu lại?

—Bạch Thế Tôn, con rất là bận rộn với những sự việc các vua chúa bận rộn. Các vua chúa Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, say đắm kiêu hãnh với vương quyền, thọ hưởng tham lam vật dục, đạt được sự an toàn quốc độ, và sống chinh phục cả vùng đất đai rộng lớn.
Sāvatthinidānaṁ. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ bhagavā etadavoca: “handa kuto nu tvaṁ, mahārāja, āgacchasi divā divassā”ti? “Yāni tāni, bhante, raññaṁ khattiyānaṁ muddhāvasittānaṁ issariyamadamattānaṁ kāmagedhapariyuṭṭhitānaṁ janapadatthāvariyappattānaṁ mahantaṁ pathavimaṇḍalaṁ abhivijiya ajjhāvasantānaṁ rājakaraṇīyāni bhavanti, tesu khvāhaṁ, etarahi ussukkamāpanno”ti.At Sāvatthī. King Pasenadi of Kosala sat to one side, and the Buddha said to him, “So, Great King, where are you coming from in the middle of the day?” “Sir, there are anointed aristocratic kings who are infatuated with authority, and obsessed with greed for sensual pleasures. They have attained stability in the country, occupying a vast conquered territory. Today I have been busy fulfilling the duties of such kings.”

2—Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Ở đây, nếu có người đến với Đại vương từ phương Đông, một người thân tín, đáng tin cậy. Người ấy đến Đại vương và thưa: “Tâu Đại vương, mong Đại vương được biết, con từ phương Đông lại và có thấy tại đấy một ngọn núi cao như hư không, đang di chuyển và chà đạp, đè bẹp tất cả loại hữu tình. Tâu Đại vương, Đại vương hãy làm những gì cần phải làm”.

Rồi một người khác đến từ phương Tây … Rồi một người thứ ba đến từ phương Bắc … Rồi một người thứ tư đến từ phương Nam, thân tín đáng tin cậy. Người ấy đến Đại vương và thưa: “Tâu Đại vương, mong Đại vương được biết, con từ phương Nam lại và có thấy tại đấy một ngọn núi cao như hư không, đang di chuyển và chà đạp, đè bẹp lên tất cả loại hữu tình. Tâu Đại vương, Đại vương hãy làm những gì cần phải làm”. Như vậy, thưa Đại vương, một khủng bố lớn khởi lên cho Đại vương, sự diệt tận nhân loại thật khủng khiếp, được tái sanh làm người thật khó khăn, thời Đại vương có thể làm được những gì?
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha te puriso āgaccheyya puratthimāya disāya saddhāyiko paccayiko. So taṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya: ‘yagghe, mahārāja, jāneyyāsi, ahaṁ āgacchāmi puratthimāya disāya. Tatthaddasaṁ mahantaṁ pabbataṁ abbhasamaṁ, sabbe pāṇe nippothento āgacchati. Yaṁ te, mahārāja, karaṇīyaṁ, taṁ karohī’ti. Atha dutiyo puriso āgaccheyya pacchimāya disāya …pe… atha tatiyo puriso āgaccheyya uttarāya disāya … atha catuttho puriso āgaccheyya dakkhiṇāya disāya saddhāyiko paccayiko. So taṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya: ‘yagghe, mahārāja, jāneyyāsi, ahaṁ āgacchāmi dakkhiṇāya disāya. Tatthaddasaṁ mahantaṁ pabbataṁ abbhasamaṁ sabbe pāṇe nippothento āgacchati. Yaṁ te, mahārāja, karaṇīyaṁ taṁ karohī’ti. Evarūpe te, mahārāja, mahati mahabbhaye samuppanne dāruṇe manussakkhaye dullabhe manussatte kimassa karaṇīyan”ti?“What do you think, Great King? Suppose a trustworthy and dependable man were to come from the east. He’d approach you and say: ‘Please, Great King, you should know this. I come from the east. There I saw a big mountain that reached the clouds. And it was coming this way, crushing all creatures. So then, Great King, do what you must!’ Then a second trustworthy and dependable man were to come from the west … a third from the north … and a fourth from the south. He’d approach you and say: ‘Please, Great King, you should know this. I come from the south. There I saw a big mountain that reached the clouds. And it was coming this way, crushing all creatures. So then, Great King, do what you must!’ Should such a dire threat arise—a grim loss of human life, when human birth is so rare—what would you do?”

3—Như vậy, bạch Thế Tôn, một khủng bố lớn khởi lên, sự diệt tận nhân loại thật khủng khiếp, được tái sanh làm người thật khó khăn, thời con có thể làm được những gì, ngoại trừ sống đúng pháp, sống chơn chánh làm các hạnh lành, làm các công đức!“Evarūpe me, bhante, mahati mahabbhaye samuppanne dāruṇe manussakkhaye dullabhe manussatte kimassa karaṇīyaṁ aññatra dhammacariyāya aññatra samacariyāya aññatra kusalakiriyāya aññatra puññakiriyāyā”ti?“Sir, what could I do but practice the teachings, practice morality, doing skillful and good actions?”

4—Thưa Đại vương, Ta nói cho Đại vương biết, Ta cáo cho Đại vương hay. Thưa Đại vương, già và chết đang tiến đến chinh phục Đại vương. Khi Đại vương bị già chết chinh phục, Đại vương có thể làm được gì?

—Bạch Thế Tôn, khi con bị già và chết chinh phục, thời con có thể làm được gì, ngoại trừ sống đúng pháp, sống chơn chánh, làm các hạnh lành, làm các công đức!

Bạch Thế Tôn, những sự việc như các vua chúa Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, say đắm, kiêu hãnh với vương quyền, thọ hưởng tham lam vật dục, đạt được sự an toàn quốc độ và sống chinh phục cả vùng đất đai rộng lớn cùng các trận chiến với tượng binh. Bạch Thế Tôn, các trận chiến với tượng binh không đem lại một hướng đi (gati), một điểm tựa cho các vua chúa ấy, mội khi bị già chết chinh phục.

Bạch Thế Tôn, những sự việc như các vua chúa Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, say đắm, kiêu hãnh với vương quyền, thọ hưởng tham lam vật dục, đạt được sự an toàn quốc độ và sống chinh phục cả một vùng đất đai rộng lớn cùng các trận chiến với mã binh…, … với xa binh…, … với bộ binh. Bạch Thế Tôn, các trận chiến với bộ binh không đem lại một hướng đi, một điểm tựa cho các vị vua chúa ấy một khi bị già chết chinh phục.

Bạch Thế Tôn, trong vương quốc này có những Đại thần tinh luyện về thần chú. Các vị này có thể với thần chú, phá tan quân địch tới tấn công. Nhưng bạch Thế Tôn, các trận chiến chú thuật không đem lại một hướng đi, một điểm tựa cho các vị vua ấy một khi bị già chết chinh phục.

Bạch Thế Tôn, trong vương cung này có nhiều số vàng được chứa cất trong những nhà hầm hay những lầu thượng, và với số vàng ấy chúng con có thể phá tan quân địch tấn công tài chánh. Nhưng bạch Thế Tôn, các trận chiến tài chánh không đem lại một hướng đi, một điểm tựa cho các vị vua chúa ấy một khi bị già chết chinh phục.

Và bạch Thế Tôn, khi con bị già chết chinh phục, thời con có thể làm được gì, ngoại trừ sống đúng pháp, sống chơn chánh, làm các hạnh lành, làm các công đức!
“Ārocemi kho te, mahārāja, paṭivedemi kho te, mahārāja, adhivattati kho taṁ, mahārāja, jarāmaraṇaṁ. Adhivattamāne ce te, mahārāja, jarāmaraṇe kimassa karaṇīyan”ti? “Adhivattamāne ca me, bhante, jarāmaraṇe kimassa karaṇīyaṁ aññatra dhammacariyāya samacariyāya kusalakiriyāya puññakiriyāya? Yāni tāni, bhante, raññaṁ khattiyānaṁ muddhāvasittānaṁ issariyamadamattānaṁ kāmagedhapariyuṭṭhitānaṁ janapadatthāvariyappattānaṁ mahantaṁ pathavimaṇḍalaṁ abhivijiya ajjhāvasantānaṁ hatthiyuddhāni bhavanti; tesampi, bhante, hatthiyuddhānaṁ natthi gati natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe. Yānipi tāni, bhante, raññaṁ khattiyānaṁ muddhāvasittānaṁ …pe… ajjhāvasantānaṁ assayuddhāni bhavanti …pe… rathayuddhāni bhavanti …pe… pattiyuddhāni bhavanti; tesampi, bhante, pattiyuddhānaṁ natthi gati natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe. Santi kho pana, bhante, imasmiṁ rājakule mantino mahāmattā, ye pahonti āgate paccatthike mantehi bhedayituṁ. Tesampi, bhante, mantayuddhānaṁ natthi gati natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe. Saṁvijjati kho pana, bhante, imasmiṁ rājakule pahūtaṁ hiraññasuvaṇṇaṁ bhūmigatañceva vehāsaṭṭhañca, yena mayaṁ pahoma āgate paccatthike dhanena upalāpetuṁ. Tesampi, bhante, dhanayuddhānaṁ natthi gati natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe. Adhivattamāne ca me, bhante, jarāmaraṇe kimassa karaṇīyaṁ aññatra dhammacariyāya samacariyāya kusalakiriyāya puññakiriyāyā”ti?“I tell you, Great King, I announce to you: old age and death are advancing upon you. Since old age and death are advancing upon you, what would you do?” “Sir, what can I do but practice the teachings, practice morality, doing skillful and good actions? Sir, there are anointed aristocratic kings who are infatuated with authority, and obsessed with greed for sensual pleasures. They have attained stability in the country, occupying a vast conquered territory. Such kings engage in battles of elephants, cavalry, chariots, or infantry. But there is no place, no domain for such battles when old age and death are advancing. In this royal court there are ministers of wise counsel who are capable of dividing an approaching enemy by wise counsel. But there is no place, no domain for such diplomatic battles when old age and death are advancing. In this royal court there is abundant gold, both coined and uncoined, stored above and below ground. Using this wealth we can bribe an approaching enemy. But there is no place, no domain for such monetary battles when old age and death are advancing. When old age and death are advancing, what can I do but practice the teachings, practice morality, doing skillful and good actions?”

5—Như vậy là phải, thưa Đại vương. Như vậy là phải, thưa Đại vương. Khi Đại vương bị già chết chinh phục, Đại vương có thể làm được gì, ngoại trừ sống đúng pháp, sống chơn chánh, làm các hạnh lành, làm các công đức!

Thế Tôn nói như vậy…, … và bậc Đạo Sư nói thêm:
“Evametaṁ, mahārāja, evametaṁ, mahārāja. Adhivattamāne jarāmaraṇe kimassa karaṇīyaṁ aññatra dhammacariyāya samacariyāya kusalakiriyāya puññakiriyāyā”ti? Idamavoca bhagavā …pe… satthā:“That’s so true, Great King! That’s so true! When old age and death are advancing, what can you do but practice the teachings, practice morality, doing skillful and good actions?” That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:

6–11Như núi đá rộng lớn,
Dựng đứng lên hư không,
Tiến tới tràn xung quanh,
Áp đè cả bốn phía.
Cũng vậy, già và chết
Di chuyển đến hữu tình,
Giai cấp Sát-đế-lỵ,
Bà-la-môn, Phệ-xá,
Thủ-đà, Chiên-đà-la
Kẻ đổ rác, đổ phân,
Không một ai thoát khỏi,
Tất cả bị chinh phục.
Ở đây không tượng binh,
Không xa binh, bộ binh,
Không trận chiến chú thuật,
Không trận chiến tài sản
Có thể giúp chiến thắng,
Chống với già, với chết.
Do vậy người hiền trí,
Thấy rõ phần tự lợi,
Người trí đặt tin tưởng,
Vào Phật, Pháp và Tăng.
Ai với thân, khẩu, ý,
Hành trì đúng Chánh pháp,
Đời này được tán thán,
Đời sau, hưởng phước trời.
“Yathāpi selā vipulā, nabhaṁ āhacca pabbatā; Samantānupariyāyeyyuṁ, nippothento catuddisā. Evaṁ jarā ca maccu ca, adhivattanti pāṇine; Khattiye brāhmaṇe vesse, sudde caṇḍālapukkuse; Na kiñci parivajjeti, sabbamevābhimaddati. Na tattha hatthīnaṁ bhūmi, na rathānaṁ na pattiyā; Na cāpi mantayuddhena, sakkā jetuṁ dhanena vā. Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṁ atthamattano; Buddhe dhamme ca saṅghe ca, dhīro saddhaṁ nivesaye. Yo dhammaṁ cari kāyena, vācāya uda cetasā; Idheva naṁ pasaṁsanti, pecca sagge pamodatī”ti. Tatiyo vaggo. Tassuddānaṁ Puggalo ayyikā loko, issattaṁ pabbatūpamā; Desitaṁ buddhaseṭṭhena, imaṁ kosalapañcakanti. Kosalasaṁyuttaṁ samattaṁ.“Suppose there were vast mountains of solid rock pressing against the sky drawing in from all sides and crushing the four quarters. So too old age and death advance upon all living creatures— aristocrats, brahmins, peasants, menials, corpse-workers, and scavengers. They spare nothing. They crush all beneath them. There’s nowhere for elephants to take a stand, nor chariots nor infantry. They can’t be defeated by diplomatic battles or by wealth. That’s why an astute person, seeing what’s good for themselves, being wise, would place faith in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. Whoever lives by the teaching in body, speech, and mind, is praised in this life and departs to rejoice in heaven.” The Linked Discourses with the Kosalan are complete.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tương Ưng Bộ 3.25 (Pabbatūpama Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 3.25 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp