Kinh Tập 2.12 · Snp 2.12

Kinh Nigrodhakappa

Nigrodhakappa Sutta

Còn gọi là: Kinh Vaṅgīsa, Kinh Bằng Kỳ Xá, Kinh Tập 2.12

Thầy mất rồi, người học trò băn khoăn: thầy đã thật sự giải thoát chưa? Ngài Bằng-kỳ-xá, nhà thơ của Tăng chúng, đem nỗi băn khoăn ấy hỏi Đức Phật bằng mười hai bài kệ.

Trước khi đọc kinh

Kinh Nigrodhakappa (Nigrodhakappa Sutta), còn gọi là Kinh Vaṅgīsa, là bài kinh thứ mười hai trong phẩm Tiểu (Cūḷavagga) của Kinh Tập. Đức Phật trú gần A-la-bà (Āḷavī), tại điện thờ Aggāḷava; thầy tế độ của Ngài Bằng-kỳ-xá (Vaṅgīsa) là Trưởng lão Nigrodhakappa vừa viên tịch ở đó chưa bao lâu (đoạn 1.2–1.3). Ngồi một mình nơi thanh vắng, Ngài Bằng-kỳ-xá tự hỏi: thầy ta đã nhập Niết-bàn hay chưa (đoạn 1.4–1.5)? Chiều hôm ấy Ngài đến hỏi Đức Phật (đoạn 1.6–1.9). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), điện thờ Aggāḷava trước kia là chỗ thờ dạ-xoa, loài rồng; khi Đức Phật ra đời, dân chúng dẹp bỏ và dựng thành tu viện mà vẫn giữ tên cũ. Chú giải giải thích vì sao Ngài Bằng-kỳ-xá còn nghi: Ngài không có mặt lúc thầy viên tịch, và trước đó từng thấy thầy có thói quen cử động tay; chú giải nói những thói quen như vậy, do đã quen từ trước, có thể còn ở cả bậc đã dứt sạch lậu hoặc. Tên thầy là Kappa; theo chú giải, vị ấy chứng quả A-la-hán dưới gốc cây đa (nigrodha) nên Đức Phật gọi là Nigrodhakappa, như kệ 3.1–3.2 nhắc lại. Ở kệ 3.4, chú giải hiểu chữ daḷhadhammadassī là lời Ngài Bằng-kỳ-xá gọi Đức Phật: bậc chỉ bày Pháp kiên cố, tức Niết-bàn.

Chú giải kể về Ngài Bằng-kỳ-xá. Ngài là con của một cặp du sĩ, biết một phép gõ vào sọ người chết để nói người ấy tái sinh về đâu, nhờ đó nổi tiếng khắp nơi. Đức Phật cho Ngài xem sọ của những người tái sinh ở các cõi khác nhau, Ngài đều nói đúng; đến sọ của một vị A-la-hán, Ngài gõ mãi mà không biết. Muốn học điều ấy, Ngài xin xuất gia; Đức Phật bảo Trưởng lão Nigrodhakappa cho Ngài xuất gia, và Ngài dần chứng quả A-la-hán. Các bài kệ hỏi là những lời tán thán và khẩn nài đầy chất thơ: Như Lai là con mắt cao tột của loài người (kệ 6.4); nếu không có người xua tan phiền não như gió thổi tan mây, cả thế gian sẽ chìm trong bóng tối (kệ 7.1–7.4); xin Ngài cất tiếng như thiên nga vươn cổ (kệ 9.1–9.2); như người bị nắng hè thiêu đốt khao khát nước, con khao khát lời Ngài (kệ 12.3–12.4). Câu hỏi cốt lõi: vị ấy đã tịch diệt hoàn toàn, hay vẫn còn dư sót (kệ 13.3)? Đức Phật đáp: vị ấy đã cắt đứt ái đối với danh và sắc, dòng chảy của kẻ Đen Tối vốn ngủ ngầm từ lâu, và đã vượt qua sinh tử không còn sót (kệ 14.1–14.4). Theo chú giải, kẻ Đen Tối là Ma vương (Māra), ái được gọi là dòng chảy của Ma vương, và câu trả lời cho thấy Trưởng lão đã nhập Niết-bàn không còn dư sót. Ngài Bằng-kỳ-xá gọi Đức Phật là bậc thứ bảy trong các bậc ẩn sĩ (kệ 15.2); chú giải giải là vị Phật thứ bảy, sau sáu vị Phật từ Phật Vipassī đến Phật Ca-diếp (Kassapa).

Điều đáng chú ý là thước đo mà Ngài Bằng-kỳ-xá dùng khi nói về thầy: nói sao làm vậy, vị ấy đúng là đệ tử của Đức Phật (kệ 16.1–16.2). Người học trò không hỏi thầy mình được bao nhiêu người biết đến, dù kệ 2.4 có nhắc thầy nổi tiếng; điều Ngài muốn biết là đời phạm hạnh của thầy có uổng hay không (kệ 13.1–13.2). Lối đi của bậc A-la-hán, như Pháp Cú phẩm A-la-hán nói, khó tìm theo như dấu chim bay giữa hư không (Dhp 92–93); người ở lại chỉ có thể nhận ra qua cách vị ấy đã sống. A-la-bà cũng là nơi Đức Phật hóa độ dạ-xoa trong Kinh Āḷavaka (Snp 1.10). Khi nhớ đến một người thân đã khuất, bạn có thể thay câu hỏi “người ấy giờ ở đâu” bằng câu hỏi “người ấy đã sống thế nào, và mình học được điều gì”, rồi sống theo điều tốt ấy.

Ý chính

  • Ngồi một mình, Ngài Bằng-kỳ-xá nghi thầy mình đã nhập Niết-bàn hay chưa, rồi đến hỏi Đức Phật (1.4–1.9).
  • Gặp Như Lai, mọi trói buộc, nẻo đưa đến si mê và chỗ trú của nghi ngờ đều không còn (6.1–6.4).
  • Không có người xua tan phiền não như gió thổi tan mây, cả thế gian sẽ chìm trong bóng tối (7.1–7.4).
  • Như người bị nắng hè thiêu đốt khao khát nước, người học khao khát lời dạy (12.3–12.4).
  • Vị ấy đã cắt đứt ái đối với danh và sắc, vượt qua sinh tử không còn sót (14.1–14.4).
  • Nói sao làm vậy, vị ấy đã thấy nguồn gốc của chấp thủ và vượt qua cõi Thần chết (16.1–17.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
upajjhāya
thầy tế độ, vị thầy cho mình xuất gia và thọ giới
parinibbuta
đã nhập Niết-bàn, đã tịch diệt hoàn toàn
vicikicchā
nghi ngờ
saupādisesa
còn dư sót; theo chú giải là chỉ bậc hữu học, chưa phải A-la-hán
nāmarūpa
danh và sắc: phần tâm và phần thân
kaṇha
kẻ Đen Tối; theo chú giải là Ma vương
anusaya
tùy miên: khuynh hướng ngủ ngầm trong tâm
isisattama
bậc thứ bảy trong các bậc ẩn sĩ; theo chú giải là vị Phật thứ bảy kể từ Phật Vipassī

Kinh Nigrodhakappa

1Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế tôn sống ờ Alavi, tại điện Aggàlava. Lúc bấy giờ, giáo sư thọ sư của Tôn giả Vangìsa, tên là Nigrodhakappa tại điện Aggalava, mệnh chung không bao lâu. Rồi Tôn giả Vangìsa, trong khi thiền định độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Không biết bậc giáo thọ sư của ta có hoàn toàn nhập Niết-bàn hay không hoàn toàn nhập Niết-bàn?". Rồi Tôn giả Vangìsa vào buổi chiều, từ thiền tịnh đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Vangìsa bạch Thế Tôn:

- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, con khởi lên tư tưởng như sau: "Không biết bậc giáo thọ sư của con có hoàn toàn nhập Niết Bàn hay không, hoàn toàn nhập Niết-bàn?"

Rồi Tôn giả Vangìsa, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay vái chào Thế Tôn và với bài kệ, nói lên với Thế Tôn:
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye. Tena kho pana samayena āyasmato vaṅgīsassa upajjhāyo nigrodhakappo nāma thero aggāḷave cetiye aciraparinibbuto hoti. Atha kho āyasmato vaṅgīsassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi— parinibbuto nu kho me upajjhāyo udāhu no parinibbutoti? Atha kho āyasmā vaṅgīso sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṁ etadavoca— idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi— parinibbuto nu kho me upajjhāyo, udāhu no parinibbutoti. Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:So I have heard. At one time the Buddha was staying near Āḷavī, at Āḷavī’s premier shrine. Now at that time it was not long after Venerable Vaṅgīsa’s mentor, the senior monk named Nigrodhakappa, had become fully quenched. Then as Vaṅgīsa was in private retreat this thought came to his mind: “Has my mentor become quenched or not?” Then in the late afternoon, Venerable Vaṅgīsa came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and said to him: “Just now, sir, as I was in private retreat this thought came to mind. ‘Has my mentor become quenched or not?’” Then Venerable Vaṅgīsa rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and addressed him in verse:

2Vangìsa:

Con hỏi bậc Đạo Sư,
Bậc trí tuệ tối thượng,
Ai chặt đứt nghi hoặc,
Ngay trong đời hiện tại?
Tại Aggàlava,
Tỷ-kheo đã mệnh chung,
Có danh vọng danh xưng,
Nhập Niết bàn tịch tịnh.
“Pucchāmi satthāramanomapaññaṁ, Diṭṭheva dhamme yo vicikicchānaṁ chettā; Aggāḷave kālamakāsi bhikkhu, Ñāto yasassī abhinibbutatto.“I ask the Teacher unrivaled in wisdom, who has cut off all doubts in this very life: a monk has died at Āḷavī’s premier shrine, who was well-known, famous, and quenched.

3Nigrodhakappa,
Chính là tên vị ấy,
Chính Thế Tôn đặt tên,
Cho vị Phạm chí ấy,
Vị ấy đảnh lễ Ngài,
Sống tầm cầu giải thoát,
Tinh cần và tinh tấn,
Kiên cố thấy Chánh Pháp.
Nigrodhakappo iti tassa nāmaṁ, Tayā kataṁ bhagavā brāhmaṇassa; So taṁ namassaṁ acari mutyapekkho, Āraddhaviriyo daḷhadhammadassī.Nigrodhakappa was his name; it was given to that brahmin by you, Blessed One. He wandered in your honor, yearning for freedom, energetic, a resolute Seer of Truth.

4Bạch Thích Ca, chúng con
Đệ tử Ngài, tất cả
Chúng con đều muốn biết
Bậc Pháp nhãn biến tri,
An trú tại chúng con,
Sẵn sàng để được nghe,
Ngài Đạo sư chúng con,
Ngài là bậc Vô thượng.
Taṁ sāvakaṁ sakya mayampi sabbe, Aññātumicchāma samantacakkhu; Samavaṭṭhitā no savanāya sotā, Tuvaṁ no satthā tvamanuttarosi.O Sakyan, All-seer, we all wish to know about that disciple. Our ears are eager to hear, for you are the most excellent teacher.

5Hãy đoạn nghi chúng con,
Cho con biết vị ấy,
Đã được tịch tịnh chưa
Bậc trí tuệ rộng lớn,
Hãy nói giữa chúng con,
Bậc có mặt cùng khắp,
Như Thiên chủ Đế Thích,
Lãnh đạo ngàn chư Thiên.
Chindeva no vicikicchaṁ brūhi metaṁ, Parinibbutaṁ vedaya bhūripañña; Majjheva no bhāsa samantacakkhu, Sakkova devāna sahassanetto.Cut off our doubt, declare this to us; your wisdom is vast, tell us of his quenching! All-seer, speak among us, like the thousand-eyed Sakka in the midst of the gods!

6Phàm những cột gút gì,
Ở đây, đường si ám,
Dự phần với vô trí,
Trú xứ cho nghi hoặc;
Gặp được đức Như Lai,
Họ đều không còn nữa.
Mắt này mắt tối thắng,
Giữa cặp mắt loài Người.
Ye keci ganthā idha mohamaggā, Aññāṇapakkhā vicikicchaṭhānā; Tathāgataṁ patvā na te bhavanti, Cakkhuñhi etaṁ paramaṁ narānaṁ.Whatever ties there are, or paths to delusion, or things on the side of unknowing, or that are bases of doubt vanish on reaching a Realized One, for his eye is the best of all people’s.

7Nếu không có người nào,
Đoạn trừ các phiền não,
Như gió thổi tiêu tan
Các tầng mây dưới thấp,
Màn đen tức bao trùm,
Tất cả toàn thế giới,
Những bậc có hào quang,
Không có thể chói sáng.
No ce hi jātu puriso kilese, Vāto yathā abbhaghanaṁ vihāne; Tamovassa nivuto sabbaloko, Na jotimantopi narā tapeyyuṁ.If no man were ever to disperse corruptions, like the wind dispersing the stormclouds, darkness would shroud the whole world; not even brilliant men would shine.

8Bậc trí là những vị
Tạo ra những ánh sáng,
Con xem Ngài như vậy.
Ôi! Bậc trí sáng suốt,
Chúng con đều cùng đến,
Bậc tu hành thiền quán,
Giữa hội chúng, chúng con,
Hãy nói về Kappa!
Dhīrā ca pajjotakarā bhavanti, Taṁ taṁ ahaṁ vīra tatheva maññe; Vipassinaṁ jānamupāgamumhā, Parisāsu no āvikarohi kappaṁ.The attentive are bringers of light; my hero, that is what I think of you. We’ve come for your discernment and knowledge: here in this assembly, declare to us about Kappāyana.

9Hãy gấp phát tiếng lên,
Tiếng âm thanh vi diệu,
Như con chim thiên nga,
Giương cổ lên để hót,
Phát âm từng tiếng một,
Với giọng khéo ngân nga,
Tất cả bạn chúng con,
Trực tâm nghe lời Ngài.
Khippaṁ giraṁ eraya vaggu vagguṁ, Haṁsova paggayha saṇikaṁ nikūja; Bindussarena suvikappitena, Sabbeva te ujjugatā suṇoma.Swiftly send forth your sweet, sweet voice, like a goose stretching its neck, gently honking, lucid-flowing, with lovely tone: alert, we all listen to you.

10Vị đoạn tận sanh tử,
Không còn chút dư tàn,
Vị tẩy sạch phiền não,
Con cầu Ngài thuyết pháp,
Kẻ phàm phu không thể
Làm theo điều nó muốn.
Bậc Như Lai làm được,
Điều được ước định làm,
Pahīnajātimaraṇaṁ asesaṁ, Niggayha dhonaṁ vadessāmi dhammaṁ; Na kāmakāro hi puthujjanānaṁ, Saṅkheyyakāro ca tathāgatānaṁ.You have entirely abandoned birth and death; curbed and pure, I urge you, speak the Dhamma! For ordinary people have no wish-granter, but Realized Ones have a comprehensibility-granter.

11Câu trả lời của Ngài
Thật đầy đủ trọn vẹn,
Được chơn chánh nắm giữ,
Bậc chánh trực trí tuệ.
Đây chắp tay cuối cùng,
Con khéo vái chào Ngài,
Chớ làm con si ám,
Bậc trí tuệ tối cao.
Sampannaveyyākaraṇaṁ tavedaṁ, Samujjupaññassa samuggahītaṁ; Ayamañjalī pacchimo suppaṇāmito, Mā mohayī jānamanomapañña.Your answer is definitive, and we will adopt it, for you have perfect understanding. We raise our cupped palms one last time, one of unrivaled wisdom, don’t deliberately confuse us.

12Sau khi đã được biết
Thánh pháp thượng và hạ,
Chớ làm con si ám,
Bậc tinh tấn tối cao,
Như vào giữa mùa hè,
Nóng bức khát khao nước,
Chúng con ngóng trông lời,
Hãy mưa sự hiểu biết.
Parovaraṁ ariyadhammaṁ viditvā, Mā mohayī jānamanomavīra; Vāriṁ yathā ghammani ghammatatto, Vācābhikaṅkhāmi sutaṁ pavassa.Knowing the teaching of the noble ones from top to bottom, one of unrivaled energy, don’t deliberately confuse us. As a man baking in the summer sun would long for water, I long for your voice, so let the sound rain forth.

13Kappa, sống Phạm hạnh,
Nếp sống có mục đích,
Phải chăng sống như vậy
Là sống không uổng phí?
Vị ấy chứng tịch tịnh,
Hay còn dư tàn lại,
Được giải thoát thế nào,
Hãy nói chúng con nghe!
Yadatthikaṁ brahmacariyaṁ acarī, Kappāyano kaccissa taṁ amoghaṁ; Nibbāyi so ādu saupādiseso, Yathā vimutto ahu taṁ suṇoma”.Surely Kappāyana did not lead the spiritual life in vain? Did he realize quenching, or did he still have a residue? Let us hear what kind of liberation he had!”

14Thế Tôn:

Vị ấy trên danh sắc,
Đã đoạn tận tham ái,
Thế Tôn ở nơi đây
Đã trả lời như vậy,
Vượt qua được già chết,
Không còn có dư tàn,
Thế Tôn nói như vậy,
Bậc tối thắng thứ năm.
“Acchecchi taṇhaṁ idha nāmarūpe, (iti bhagavā) Kaṇhassa sotaṁ dīgharattānusayitaṁ; Atāri jātiṁ maraṇaṁ asesaṁ”, Iccabravī bhagavā pañcaseṭṭho.“He cut off craving for name and form right here,” said the Buddha, “the river of darkness that had long lain within him. He has entirely crossed over birth and death.” So declared the Blessed One, the leader of the five.

15Vangìsa:

Nghe vậy, con tịnh tín,
Với lời nói của Ngài,
Bậc ẩn sĩ thứ bảy?
Và lời hỏi của con.
Không phải là vô ích!
Và vị Bà-la-môn
Không có lừa dối con.
“Esa sutvā pasīdāmi, Vaco te isisattama; Amoghaṁ kira me puṭṭhaṁ, Na maṁ vañcesi brāhmaṇo.“Now that I have heard your words, seventh of seers, I am confident. My question, it seems, was not in vain, the brahmin did not deceive me.

16Nói gì thời làm vậy,
Thật xứng đệ tử Phật,
Chặt đứt lưới rộng chắc
Của thần chết xảo quyệt.
Yathāvādī tathākārī, Ahu buddhassa sāvako; Acchidā maccuno jālaṁ, Tataṁ māyāvino daḷhaṁ.As he said, so he did— he was a disciple of the Buddha. He cut the net of death the deceiver, so extended and strong.

17Ôi! Thế Tôn, Kappa
Thấy căn nguyên chấp thủ,
Thật sự đã vượt qua
Thế lực của Ma vương,
Thế lực thật khó vượt.
Addasā bhagavā ādiṁ, Upādānassa kappiyo; Accagā vata kappāyano, Maccudheyyaṁ suduttaran”ti. Nigrodhakappasuttaṁ dvādasamaṁ.Blessed One, Kappāyana saw the starting point of grasping. He has indeed gone far beyond Death’s dominion so hard to pass.”

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 2.12 (Nigrodhakappa Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.12 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp