Kinh Tập 2.7 · Snp 2.7

Kinh Pháp Của Bà-la-môn

Brāhmaṇadhammika Sutta

Còn gọi là: Kinh Bà La Môn Pháp, Kinh Tập 2.7

Những vị Bà-la-môn cao tuổi hỏi Đức Phật: người dòng mình ngày nay có còn sống như tổ tiên không? Đức Phật đáp là không, rồi kể lại một thời thanh bạch, và cách lòng tham len vào từng chút một.

Trước khi đọc kinh

Kinh Pháp Của Bà-la-môn (Brāhmaṇadhammika Sutta) là bài kinh thứ bảy trong phẩm Tiểu (Cūḷavagga) của Kinh Tập. Khi Đức Phật ở Kỳ Viên (Jetavana), tu viện của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) gần Xá-vệ (Sāvatthī), nhiều vị Bà-la-môn giàu có, tuổi đã cao, ở xứ Kosala đến hỏi: ngày nay các Bà-la-môn có còn sống theo pháp của các Bà-la-môn thời xưa không (đoạn 1.3–1.5)? Đức Phật đáp là không, và theo lời thỉnh của họ, Ngài kể lại (đoạn 1.6–1.8). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), đây là những vị có của cải cất giữ đến tám trăm triệu. Bài kệ kể: các ẩn sĩ thời xưa tự chế ngự, từ bỏ năm dục lạc (kệ 2.1–2.4); không nuôi gia súc, không có vàng bạc lúa thóc, lấy việc tụng học làm của cải và gìn giữ kho báu cao thượng (kệ 3.1–3.4), mà chú giải giải là các phạm trú như tâm từ; được dân chúng kính lễ, không bị ai ngăn ở cửa nhà nào (kệ 5–6); sống phạm hạnh bốn mươi tám năm từ thuở thiếu niên (kệ 7.1–7.4); không mua vợ, chỉ kết đôi khi thương yêu nhau (kệ 8.1–8.4); ngợi khen giới đức, sự ngay thẳng, hiền hòa, không làm hại và nhẫn nại (kệ 10.1–10.4). Khi làm lễ tế, họ xin gạo, vải, bơ dầu một cách đúng pháp và không giết bò, vì bò như cha mẹ, anh em, cho sữa làm thức ăn và thuốc men (kệ 13–15). Chú giải ghi rằng “bò” ở đây được nêu để chỉ mọi loài có sự sống.

Rồi đến phần suy đồi. Thấy sự giàu sang của nhà vua, xe ngựa, nhà cửa, các Bà-la-môn khởi lên cái thấy lệch lạc và thèm muốn của cải (kệ 17–19), soạn ra những bài tụng mới, khuyên vua Okkāka cử hành các lễ tế lớn để được ban của (kệ 20–23); lòng tham càng lớn, họ lại khuyên vua giết bò trong lễ tế, và nhà vua cho giết nhiều trăm ngàn con bò vốn hiền lành, không hại ai (kệ 24–27). Chư thiên, Thiên chủ Đế Thích (Inda), các A-tu-la đều kêu lên “Phi pháp!”; ba thứ bệnh thuở xưa thành chín mươi tám thứ (kệ 28–29). Sau cùng, xã hội chia rẽ, mọi giới đều rơi vào vòng sai khiến của các dục (kệ 32–33). Chú giải đọc bài kinh theo các hạng Bà-la-môn mà Đức Phật nói trong Kinh Doṇa (AN 5.192): bậc như Phạm thiên (kệ 11), bậc như chư thiên (kệ 12), bậc giữ đúng giới hạn (kệ 13–16), và bậc đã phá vỡ giới hạn (từ kệ 17 trở đi). Nghe xong, các vị Bà-la-môn cao tuổi xin quy y Đức Phật trọn đời (đoạn 34.3).

Hiểu đúng: đây là một câu chuyện lịch sử, được kể với lòng tôn trọng. Đức Phật không chê dòng Bà-la-môn; Ngài ngợi khen lý tưởng thanh bạch của các bậc tiền bối ấy và trả lời đúng câu hỏi mà chính các vị Bà-la-môn đặt ra. Bài kinh cũng không nhắm vào bất kỳ cộng đồng nào hôm nay. Điều bài kinh chỉ ra là một quy luật chung cho mọi truyền thống, kể cả người con Phật: lý tưởng không mất đi trong một lần, mà mòn dần “từng chút, từng chút một” khi lòng ham muốn được nuôi lớn (kệ 17.2, 24.3–24.4). Trong Pháp Cú phẩm Bà-la-môn, Đức Phật gọi người có hạnh lành là Bà-la-môn chân thật, không xét dòng dõi, như Kinh Kẻ Bần Tiện (Snp 1.7) cũng dạy. Bạn có thể nhìn lại một lý tưởng của chính mình, trong nghề nghiệp hay trong việc tu học: hôm nay nó có còn nguyên như thuở ban đầu không?

Ý chính

  • Ngày nay các Bà-la-môn không còn sống theo pháp của các Bà-la-môn thời xưa (1.5–1.6).
  • Các ẩn sĩ thời xưa tự chế ngự, bỏ năm dục lạc, lấy việc tụng học làm của cải (2.1–3.4).
  • Họ ngợi khen phạm hạnh, giới đức, sự ngay thẳng, hiền hòa, không làm hại và nhẫn nại (10.1–10.4).
  • Khi làm lễ tế, họ không giết bò, vì bò như cha mẹ, anh em, đem lại thức ăn và thuốc men (14.1–15.4).
  • Thấy sự giàu sang, lòng thèm muốn khởi lên từng chút một, rồi tham ái càng thêm lớn (17.1–19.4).
  • Giết hại con vật vô tội là phi pháp, bị người trí chê trách từ xưa (30.1–31.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
brāhmaṇadhamma
pháp của Bà-la-môn: nếp sống và bổn phận của người Bà-la-môn
isi
ẩn sĩ, bậc hiền sĩ tu khổ hạnh
brahmacariya
phạm hạnh; ở đây là đời sống độc thân tu học
yañña
lễ tế, cuộc bố thí lớn; theo chú giải, lễ tế của các bậc xưa là sự bố thí
avihiṁsā
sự không làm hại, lòng thương xót muôn loài
vipallāsa
cái thấy lệch lạc; theo chú giải là thấy điều khổ thành điều vui
taṇhā
tham ái, lòng khát khao không biết đủ
adhamma
phi pháp, điều trái với lẽ phải

Kinh Pháp Của Bà-la-môn

1Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi nhiều Bà-la-môn đại phú ở Kosala già yếu, cao niên, trưởng lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:

- Thưa Tôn giả Gotama, hiện nay còn có những Bà-la-môn nào được thấy là theo pháp Bà-la-môn của những Bà-la-môn thời xưa?

- Này các Bà-la-môn, hiện nay không còn thấy các Bà-la-môn theo pháp Bà-la-môn của các Bà-la-môn thời xưa?

- Lành thay, Tôn giả Gotama hãy nói cho pháp Bà-la-môn của các Bà-la-môn thời xưa. Nếu Tôn giả Gotama không thấy gì phiền phức.

- Vậy này các Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói.

- Thưa vâng, Tôn giả.
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho sambahulā kosalakā brāhmaṇamahāsālā jiṇṇā vuḍḍhā mahallakā addhagatā vayoanuppattā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te brāhmaṇamahāsālā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “sandissanti nu kho, bho gotama, etarahi brāhmaṇā porāṇānaṁ brāhmaṇānaṁ brāhmaṇadhamme”ti? “Na kho, brāhmaṇā, sandissanti etarahi brāhmaṇā porāṇānaṁ brāhmaṇānaṁ brāhmaṇadhamme”ti. “Sādhu no bhavaṁ gotamo porāṇānaṁ brāhmaṇānaṁ brāhmaṇadhammaṁ bhāsatu, sace bhoto gotamassa agarū”ti. “Tena hi, brāhmaṇā, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bho”ti kho te brāhmaṇamahāsālā bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then several old and well-to-do brahmins of Kosala—elderly and senior, who were advanced in years and had reached the final stage of life—went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to the Buddha: “Worthy Gotama, are the ancient principles of the brahmins exhibited these days among brahmins?” “No, brahmins, they are not.” “If you wouldn’t mind, Worthy Gotama, please teach us the ancient principles of the brahmins.” “Well then, brahmins, listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, worthy sir,” they replied. The Buddha said this:

2Các Bà-la-môn đại phú ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

Các ẩn sĩ thời xưa,
Chế ngự, sống khắc khổ,
Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
Hành lý tưởng tự ngã.
“Isayo pubbakā āsuṁ, saññatattā tapassino; Pañca kāmaguṇe hitvā, attadatthamacārisuṁ.“The ancient seers used to be restrained and austere. Having given up the five sensual stimuli, they lived for their own true good.

3Phạm chí, không gia súc,
Không vàng bạc lúa gạo,
Học hỏi là tài sản,
Họ che chở hộ trì,
Kho tàng tối thượng ấy.
Na pasū brāhmaṇānāsuṁ, na hiraññaṁ na dhāniyaṁ; Sajjhāyadhanadhaññāsuṁ, brahmaṁ nidhimapālayuṁ.Brahmins used to own no cattle, nor gold coin or grain. Chanting was their money and grain, which they guarded as a gift from god.

4Đồ ăn được sửa soạn,
Được đặt tại ngưỡng cửa,
Với lòng tin, họ soạn
Để cúng bậc Thánh cầu.
Yaṁ nesaṁ pakataṁ āsi, dvārabhattaṁ upaṭṭhitaṁ; Saddhāpakatamesānaṁ, dātave tadamaññisuṁ.Food was prepared for them and left beside their doors. People believed that food prepared in faith should be given to them.

5Với vải mặc nhiều màu,
Với giường nằm trú xứ,
Từ quốc độ giàu có,
Họ đảnh lễ Phạm chí.
Nānārattehi vatthehi, sayanehāvasathehi ca; Phītā janapadā raṭṭhā, te namassiṁsu brāhmaṇe.With colorful clothes, lodgings and houses, prosperous nations and countries honored those brahmins.

6Không bị ai xâm phạm
Là Phạm chí thời ấy,
Không bị ai chiến hại,
Họ được pháp che chở,
Không ai ngăn chận họ,
Tại ngưỡng cửa gia đình.
Avajjhā brāhmaṇā āsuṁ, ajeyyā dhammarakkhitā; Na ne koci nivāresi, kuladvāresu sabbaso.Brahmins used to be inviolable and invincible, protected by principle. No one ever turned them away from the doors of families.

7–8Từ trẻ đến bốn tám,
Các Phạm chí thời xưa,
Họ sống hành Phạm hạnh,
Tầm cầu minh và hạnh.

Các vị Bà-la-môn,
Không đến giai cấp khác,
Không mua người làm vợ,
Chung sống trong tình thương,
Họ đi đến với nhau,
Trong niềm hoan hỷ chung.
Aṭṭhacattālīsaṁ vassāni, (komāra) Brahmacariyaṁ cariṁsu te; Vijjācaraṇapariyeṭṭhiṁ, Acaruṁ brāhmaṇā pure. Na brāhmaṇā aññamagamuṁ, napi bhariyaṁ kiṇiṁsu te; Sampiyeneva saṁvāsaṁ, saṅgantvā samarocayuṁ.For forty-eight years they led the spiritual life. The brahmins of old pursued their quest for knowledge and conduct. Brahmins never transgressed with another, nor did they purchase a wife. They lived together in love, joining together by mutual consent.

9Ngoại trừ thời gian ấy,
Thời có thể thụ thai,
Là người Bà-la-môn,
Không đi đến giao cấu.
Aññatra tamhā samayā, utuveramaṇiṁ pati; Antarā methunaṁ dhammaṁ, nāssu gacchanti brāhmaṇā.Brahmins never approached their wives for sex during the time outside the fertile phase of the menstrual cycle after menstruation.

10Họ tán thán Phạm hạnh,
Giới, học thức, nhu hòa,
Khắc khổ và hòa nhã,
Bất hại và nhẫn nhục.
Brahmacariyañca sīlañca, ajjavaṁ maddavaṁ tapaṁ; Soraccaṁ avihiṁsañca, khantiñcāpi avaṇṇayuṁ.They praised chastity and morality, integrity, tenderness, and fervor, gentleness and harmlessness, and also patience.

11Vị tối thắng trong họ,
Là Phạm thiên, nỗ lực,
Vị ấy không giao hợp,
Cho đến trong cơn mộng.
Yo nesaṁ paramo āsi, Brahmā daḷhaparakkamo; Sa vāpi methunaṁ dhammaṁ, Supinantepi nāgamā.He who was supreme among them, godlike, staunchly vigorous, did not engage in sex even in a dream.

12Ở đời, bậc có trí,
Học theo hạnh vị ấy,
Họ tán thán Phạm hạnh,
Giới đức và nhẫn nhục.
Tassa vattamanusikkhantā, Idheke viññujātikā; Brahmacariyañca sīlañca, Khantiñcāpi avaṇṇayuṁ.Training in line with their duties, many smart people here praised chastity and morality, and also patience.

13Họ xin cơm, sàng tọa,
Vải mặc, bơ và dầu,
Thâu nhiếp thật đúng pháp,
Họ tổ chức tế tự,
Trong lễ tế tự ấy,
Họ không giết bò cái.
Taṇḍulaṁ sayanaṁ vatthaṁ, Sappitelañca yāciya; Dhammena samodhānetvā, Tato yaññamakappayuṁ.They begged for rice, bedding, clothes, ghee, and oil. Having collected them legitimately, they arranged a sacrifice.

14Như mẹ và như cha,
Như anh, như bà con,
Bò là bạn tối thượng,
Từ chúng, sanh được vị.
Upaṭṭhitasmiṁ yaññasmiṁ, Nāssu gāvo haniṁsu te; Yathā mātā pitā bhātā, Aññe vāpi ca ñātakā; Gāvo no paramā mittā, Yāsu jāyanti osadhā.But they slew no cows while serving at the sacrifice. Like a mother, father, or brother, or some other relative, cows are our best friends, the fonts of medicine.

15Bò cho ăn, cho sức,
Cho dung sắc, cho lạc
Biết được lợi ích này,
Họ không giết hại bò.
Annadā baladā cetā, Vaṇṇadā sukhadā tathā; Etamatthavasaṁ ñatvā, Nāssu gāvo haniṁsu te.They give food and strength, and beauty and happiness. Knowing these benefits, they slew no cows.

16Họ đoan trang thân lớn,
Có dung sắc, danh xưng,
Bản tánh là nhiệt tình,
Trong hành thiện dứt ác,
Họ còn sống ở đời,
Dân chúng hưởng an lạc.
Sukhumālā mahākāyā, Vaṇṇavanto yasassino; Brāhmaṇā sehi dhammehi, Kiccākiccesu ussukā; Yāva loke avattiṁsu, Sukhamedhitthayaṁ pajā.The brahmins were delicate and tall, beautiful and glorious. They were keen on all the duties according to their teachings. So long as they continued in the world, people flourished happily.

17–19Giữa họ có đảo lộn,
Họ thấy vật nhỏ nhen.
Thấy huy hoàng nhà vua,
Thấy trang sức phụ nữ.

Các cỗ xe khéo làm,
Thắng với ngựa thuần thục,
Trang hoàng với tấm thảm,
Nhiều sắc lại nhiều màu.
Các trú xứ phòng ốc,
Khéo chia, khéo ngăn cách.

Đàn bà mập vây quanh,
Chúng người đẹp hầu hạ,
Bà-la-môn tham đắm,
Tài sản lớn của người.
Tesaṁ āsi vipallāso, Disvāna aṇuto aṇuṁ; Rājino ca viyākāraṁ, Nāriyo samalaṅkatā. Rathe cājaññasaṁyutte, Sukate cittasibbane; Nivesane nivese ca, Vibhatte bhāgaso mite. Gomaṇḍalaparibyūḷhaṁ, Nārīvaragaṇāyutaṁ; Uḷāraṁ mānusaṁ bhogaṁ, Abhijjhāyiṁsu brāhmaṇā.But perversion crept into them little by little when they saw the transformation of the king and the ladies in all their finery. Their chariots were harnessed with thoroughbreds, well-made with bright canopies, and their homes and houses were neatly divided section by section. They were lavished with herds of cattle, and furnished with bevies of lovely ladies. This extravagant human wealth was coveted by the brahmins.

20Đọc các bài kệ tụng,
Họ đến Okkàla,
Ngài được tài sản lớn,
Ngài được lúa gạo nhiều.
Hãy thiết lập tế đàn,
Vì tài sản ngài lớn,
Hãy thiết lập tế đàn,
Vì tiền bạc ngài lớn.
Te tattha mante ganthetvā, Okkākaṁ tadupāgamuṁ; Pahūtadhanadhaññosi, Yajassu bahu te vittaṁ; Yajassu bahu te dhanaṁ.They compiled hymns to that end, approached King Okkāka and said, ‘You have plenty of money and grain. Sacrifice! For you have much treasure. Sacrifice! For you have much money.’

21Rồi vua, bậc lãnh tụ,
Vương chủ các xa binh,
Được các Bà-la-môn
Nhiếp phục và cảm hóa,
Tổ chức các tế đàn,
Về ngựa và về người,
Quăng con nêm, nước thánh,
Với các cửa then cài.
Lễ tế đàn này xong,
Họ cho các Phạm chí,
Rất nhiều loại tài sản.
Tato ca rājā saññatto, Brāhmaṇehi rathesabho; Assamedhaṁ purisamedhaṁ, Sammāpāsaṁ vājapeyyaṁ niraggaḷaṁ; Ete yāge yajitvāna, Brāhmaṇānamadā dhanaṁ.Persuaded by the brahmins, the king, chief of charioteers, performed horse sacrifice, human sacrifice, the sacrifices of the ‘casting of the yoke-pin’, the ‘royal soma drinking’, and the ‘unimpeded’. When he had carried out these sacrifices, he gave riches to the brahmins.

22Bò, giường nằm, áo mặc,
Nữ nhân trang sức đẹp,
Các cỗ xe khéo làm,
Thắng với ngựa thuần thục,
Trang hoàng với tấm thảm,
Nhiều sắc lại nhiều màu.
Gāvo sayanañca vatthañca, Nāriyo samalaṅkatā; Rathe cājaññasaṁyutte, Sukate cittasibbane.There were cattle, bedding, and clothes, and ladies in all their finery; chariots harnessed with thoroughbreds, well-made with bright canopies;

23Các trú xứ đẹp đẽ,
Khéo chia, khéo ngăn cách,
Đầy các loại lúa gạo,
Họ cho các Phạm chí,
Rất nhiều là tài sản.
Nivesanāni rammāni, Suvibhattāni bhāgaso; Nānādhaññassa pūretvā, Brāhmaṇānamadā dhanaṁ.and lovely homes, nicely divided section by section. Having furnished them with different grains, he gave riches to the brahmins.

24Ở đây, được tài sản,
Phạm chí thích cất chứa,
Lòng dục chúng thỏa mãn,
Khát ái càng tăng trưởng,
Họ lại đọc kệ tụng,
Họ đến Okkàka.
Te ca tattha dhanaṁ laddhā, Sannidhiṁ samarocayuṁ; Tesaṁ icchāvatiṇṇānaṁ, Bhiyyo taṇhā pavaḍḍhatha; Te tattha mante ganthetvā, Okkākaṁ puna mupāgamuṁ.When they got hold of that wealth, they arranged to store it up. Falling under the sway of desire, their craving grew and grew. They compiled hymns to that end, approached King Okkāka once more and said,

25Như nước, đất và vàng,
Tài sản và lúa gạo,
Cũng vậy là các bò,
Đối với các loài, người.
Chúng là những vật dụng,
Cần thiết cho hữu tình.
Hãy thiết lập tế đàn,
Vì tài sản ngài lớn,
Hãy thiết lập tế đàn,
Vì tiền bạc ngài lớn?
Yathā āpo ca pathavī ca, Hiraññaṁ dhanadhāniyaṁ; Evaṁ gāvo manussānaṁ, Parikkhāro so hi pāṇinaṁ; Yajassu bahu te vittaṁ, Yajassu bahu te dhanaṁ.‘Like water and earth, gold coin, riches, and grain, are cows for humankind, as they are essential for creatures. Sacrifice! For you have much treasure. Sacrifice! For you have much money.’

26Rồi vua, bậc lãnh tụ,
Vương chủ các xa binh,
Được các Bà-la-môn,
Nhiếp phục và cảm hóa,
Tổ chức các tế đàn,
Trăm ngàn bò bị giết
Tato ca rājā saññatto, Brāhmaṇehi rathesabho; Nekā satasahassiyo, Gāvo yaññe aghātayi.Persuaded by the brahmins, the king, chief of charioteers, had many hundred thousand cows slain at the sacrifice.

27Không phải với bàn chân,
Cũng không phải với sừng.
Con bò hại một ai,
Chúng được khéo nhiếp phục
Như con dê, con cừu,
Chúng cho nhiều ghè sữa,
Tuy vậy, vua ra lệnh,
Nắm sừng bắt lấy chúng,
Giết chúng bằng dao gươm.
Na pādā na visāṇena, Nāssu hiṁsanti kenaci; Gāvo eḷakasamānā, Soratā kumbhadūhanā; Tā visāṇe gahetvāna, Rājā satthena ghātayi.Neither with feet nor with horns do cows harm anyone at all. Cows meek as lambs supply buckets of milk. But taking them by the horns, the king slew them with a sword.

28Rồi chư Thiên, Tổ tiên,
Đế Thích, A-tu-la,
Với các hàng Dạ-xoa,
Đồng thanh cùng la lớn,
Như vậy là phi pháp,
Khi gươm giết hại bò.
Tato devā pitaro ca, Indo asurarakkhasā; Adhammo iti pakkanduṁ, Yaṁ satthaṁ nipatī gave.At that the gods and the ancestors, with Indra, the titans and monsters, roared out: ‘This is a crime against nature!’ as the sword fell on the cows.

29Trước đã có ba bệnh,
Dục, ăn không đủ già,
Do giết hại muôn thú,
Chúng lên đến chín tám.
Tayo rogā pure āsuṁ, Icchā anasanaṁ jarā; Pasūnañca samārambhā, Aṭṭhānavutimāgamuṁ.There used to be three kinds of illness: greed, starvation, and old age. But due to the slaughter of cows, this grew to be ninety-eight.

30Trượng phạt phi pháp này,
Từ xưa truyền đến nay,
Vật vô tội bị giết,
Còn người lễ tế đàn,
Thối thất khỏi Chánh pháp,
Eso adhammo daṇḍānaṁ, Okkanto purāṇo ahu; Adūsikāyo haññanti, Dhammā dhaṁsanti yājakā.This crime of the rods is of ancient descent. Killing innocent creatures, the sacrificers forsake righteousness.

31Vậy tùy pháp cổ này,
Bị bậc trí khiển trách,
Chỗ nào lễ tế đàn,
Như vậy, được xem thấy,
Quần chúng liền chỉ trích,
Các vị lễ tế đàn.
Evameso aṇudhammo, Porāṇo viññugarahito; Yattha edisakaṁ passati, Yājakaṁ garahatī jano.And that is how this mean old practice was criticized by sensible people. Wherever they see such a thing, folk criticize the sacrificer.

32Như vậy, pháp bị hoại,
Hạng Thủ-đà, Phệ-xá,
Bị phân ly chia rẽ,
Các hạng Sát-đế-lị
Bị chia năm, chẻ bảy
Còn vợ khinh rẽ chồng.
Evaṁ dhamme viyāpanne, Vibhinnā suddavessikā; Puthū vibhinnā khattiyā, Patiṁ bhariyāvamaññatha.With righteousness gone, peasants and menials were split, as were many aristocrats, and wives looked down on their husbands.

33Các Sát-lị hoàng tộc,
Các bà con Phạm thiên,
Cùng với hạng người khác,
Được gia tộc che chở,
Họ bỏ quên sanh chủng,
Họ rơi vào các dục.
Khattiyā brahmabandhū ca, Ye caññe gottarakkhitā; Jātivādaṁ nirākatvā, Kāmānaṁ vasamanvagun”ti.Aristocrats and brahmins only by kin, and others protected by their clan, neglecting their genealogy, fell under the sway of sensual pleasures.”

34Khi nghe nói vậy, các Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn;

- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, trình bày rõ những gì bị che kín chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối đễ những ai có mắt có thể nhìn thấy sắc. Cũng vậy, Pháp được Tôn giả Gotama với nhiều pháp môn trình bày giải thích. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ vutte, te brāhmaṇamahāsālā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti. Brāhmaṇadhammikasuttaṁ sattamaṁ.When he had spoken, those well-to-do brahmins said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 2.7 (Brāhmaṇadhammika Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.7 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp