Kinh Tập 2.2 · Snp 2.2

Kinh Mùi Hôi Thối

Āmagandha Sutta

Còn gọi là: Kinh Āmagandha, Kinh Tập 2.2

Một vị ẩn sĩ sống bằng rau quả rừng chất vấn một vị Phật vì đã dùng món thịt chim. Câu trả lời chuyển câu hỏi từ trong đĩa ăn sang trong lòng người.

Trước khi đọc kinh

Kinh Mùi Hôi Thối (Āmagandha Sutta) là bài kinh thứ hai trong phẩm Tiểu (Cūḷavagga) của Kinh Tập, gồm mười bốn bài kệ. Chữ āmagandha nghĩa đen là mùi của đồ sống, mùi tanh thối. Ba bài kệ đầu là lời chất vấn: các bậc chân nhân ăn kê, lúa rừng, rau lá, củ rễ có được đúng pháp, không vì ham muốn mà nói dối (kệ 1.1–1.4); còn ông, này Kassapa, dùng cơm gạo thơm với thịt chim khéo nấu, mà lại nói “mùi hôi thối không hợp với ta”; vậy với ông, mùi hôi thối là gì (kệ 2.1–3.6)? Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), vị được gọi là Kassapa ở đây là Phật Ca-diếp (Kassapa), vị Phật ra đời trước Đức Phật Gotama, và người hỏi là ẩn sĩ Bà-la-môn Tissa, bạn thuở nhỏ của Ngài. Tissa nghe nói vị Phật mới ra đời có ăn cá thịt, liền tìm đến hỏi; Phật Ca-diếp đáp Ngài không ăn mùi hôi thối, với ý chỉ các phiền não, còn Tissa hiểu là cá thịt. Hôm sau Ngài dùng bữa có thịt do vua Kikī xứ Ca-thi (Kāsī) dâng, để câu chuyện được mở ra.

Câu trả lời đi qua bảy bài kệ, bài nào cũng khép bằng một câu: đó là mùi hôi thối, không phải việc ăn thịt. Sát sinh, đánh đập, trói buộc, trộm cắp, nói dối, lừa đảo, đi lại với vợ người (kệ 4.1–4.4); keo kiệt, phản bạn, nói xấu sau lưng (kệ 6.1–6.4); sân hận, ganh tị, khoe khoang, kiêu căng, thân cận kẻ xấu (kệ 7.1–7.4); gian lận trong buôn bán, làm hại sinh mạng, tàn nhẫn (kệ 8–10). Rồi kinh nói thẳng: không phải kiêng cá thịt hay nhịn ăn, không phải ở trần, cạo đầu, bện tóc, thờ lửa, khổ hạnh hay tế lễ làm cho con người chưa vượt khỏi nghi ngờ được trong sạch (kệ 11.1–11.6); điều làm trong sạch là phòng hộ các căn, đứng vững trong Pháp, vui với sự ngay thẳng và hiền hòa (kệ 12.1–12.4). Chú giải giải vì sao điều ác được gọi là mùi hôi thối: vì không đáng ưa, lẫn với phiền não, và bậc thiện nhàm tránh; còn việc dùng thịt thì chú giải chỉ ghi ngắn: thịt mà người dùng không thấy, không nghe, không nghi thì không có lỗi. Ba điều ấy được Đức Phật nói rõ trong Kinh Jīvaka (MN 55): không thấy, không nghe, không nghi con vật bị giết riêng để dâng cho mình. Theo chú giải, nghe xong, Tissa đảnh lễ, xin xuất gia (kệ 14.3–14.4) và trở thành vị đại đệ tử thứ nhất của Phật Ca-diếp. Rất lâu về sau, vào thời Đức Phật Gotama, khi ẩn sĩ Bà-la-môn tên Āmagandha cùng năm trăm đệ tử hỏi Đức Phật Gotama có ăn đồ hôi thối không, Ngài thuật lại trọn mười bốn bài kệ này; các vị ấy xuất gia và chứng quả A-la-hán.

Hiểu đúng: bài kinh không khuyến khích sát sinh, vì sát sinh đứng đầu danh sách mùi hôi thối (kệ 4.1), và người không biết tự chế đối với các sinh mạng cũng bị kể ra (kệ 9.1). Bài kinh cũng không chê người ăn chay: trong kinh, vị Phật không bảo ẩn sĩ phải bỏ lối sống rau quả của mình. Điều bị bác bỏ là ý cho rằng tự việc kiêng một món ăn làm con người trong sạch, trong khi lòng vẫn còn tham, sân, dối trá. Truyền thống Bắc tông giữ chay vì lòng từ bi là một thực hành đáng kính; chư Tăng Nam truyền dùng vật thực được dâng theo ba điều thanh tịnh. Bạn có thể đọc thêm Sư Nam tông có ăn thịt không và Phật tử có phải ăn chay không. Lần tới trước bữa ăn, bạn thử nhìn vào lòng mình thay vì nhìn vào mâm cơm của người bên cạnh: hôm nay mình có mang “mùi” nào trong kệ 7 không?

Ý chính

  • Người hỏi chê: các bậc chân nhân ăn rau quả rừng, còn ông dùng cơm gạo thơm với thịt chim (1.1–3.4).
  • Sát sinh, trộm cắp, nói dối, lừa đảo, đi lại với vợ người là mùi hôi thối, không phải việc ăn thịt (4.1–4.4).
  • Tàn nhẫn, nói xấu sau lưng, phản bạn, keo kiệt cũng là mùi hôi thối (6.1–6.4).
  • Sân hận, kiêu say, ganh tị, khoe khoang, thân cận kẻ xấu cũng là mùi hôi thối (7.1–7.4).
  • Tự việc kiêng cá thịt, nhịn ăn, khổ hạnh, tế lễ không làm người còn nghi ngờ được trong sạch (11.1–11.6).
  • Phòng hộ các căn, đứng vững trong Pháp, vui với sự ngay thẳng và hiền hòa (12.1–12.2).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
āmagandha
mùi hôi thối, mùi tanh của đồ sống; theo chú giải là mọi phiền não, mọi điều ác
maṁsabhojana
việc ăn thịt
brahmabandhu
người chỉ mang dòng dõi Bà-la-môn mà không có đức hạnh Bà-la-môn
piṭṭhimaṁsika
kẻ nói xấu sau lưng; nghĩa đen là “ăn thịt sau lưng”
natthikadiṭṭhi
tà kiến chủ trương không có gì, như cho rằng việc thiện ác không có quả
avitiṇṇakaṅkha
chưa vượt qua nghi ngờ
ajjava / maddava
sự ngay thẳng / sự hiền hòa
adiṭṭha asuta aparisaṅkita
không thấy, không nghe, không nghi: ba điều chú giải nêu khi nói việc dùng thịt không có lỗi, như Kinh Jīvaka (MN 55) dạy

Kinh Mùi Hôi Thối

1–3Bà-la-môn:

Các bậc Thiện chơn chánh,
Ăn hạt giống cây thuốc,
Ăn đậu đũa, đậu rừng,
Ăn lá, ăn rễ cây,
Ăn trái các dây leo,
Nhận được thật đúng pháp.
Vị ấy không nói láo,
Vì các dục thúc đẩy.

Ôi ngài Kassapa,
Ai ăn các món ăn,
Do người khác bố thí,
Khéo làm, khéo chưng dọn,
Trong sạch và thù thắng;
Ăn lúa gạo thơm ngon.
Ai ăn uống như vậy
Là ăn thịt hôi thối.

Này bà con Phạm thiên,
Chính Ngài tuyên bố rằng:
Ta không ăn đồ thối,
Để nuôi sống thân Ta.
Nhưng Ngài ăn món ăn
Bằng lúa gạo thơm ngon,
Ăn thịt các loài chim,
Nấu ăn thật khéo léo
Ta hỏi Kassapa:
Ý nghĩa sự kiện này,
Ngài định nghĩa thế nào,
Là ăn đồ hôi thối?
“Sāmākaciṅgūlakacīnakāni ca, Pattapphalaṁ mūlaphalaṁ gavipphalaṁ; Dhammena laddhaṁ satamasnamānā, Na kāmakāmā alikaṁ bhaṇanti. Yadasnamāno sukataṁ suniṭṭhitaṁ, Parehi dinnaṁ payataṁ paṇītaṁ; Sālīnamannaṁ paribhuñjamāno, So bhuñjasī kassapa āmagandhaṁ. Na āmagandho mama kappatīti, Icceva tvaṁ bhāsasi brahmabandhu; Sālīnamannaṁ paribhuñjamāno, Sakuntamaṁsehi susaṅkhatehi; Pucchāmi taṁ kassapa etamatthaṁ, Kathaṁpakāro tava āmagandho”.“The good eat properly obtained millet, wild grains, broomcorn, greens, tubers, and grapes. They don’t lie to get what they want. But when you eat delicious food, nicely cooked and prepared, and offered by others, enjoying a dish of fine rice, Kassapa, you eat putrefaction. ‘Putrefaction is not appropriate for me’— so you said, O brahmin only by kin. Yet here you are enjoying a dish of fine rice, well prepared with the flesh of fowl. I’m asking you this, Kassapa: what do you take to be putrefaction?”

4Đức Phật Kassapa:

Sát sanh và hành hình,
Đả thương và bắt trói,
Trộm cắp và nói láo,
Man trá và lừa đảo,
Giả bộ kẻ học thức,
Đi lại với vợ người,
Đây là đồ ăn thối,
Ăn thịt không phải thối.
“Pāṇātipāto vadhachedabandhanaṁ, Theyyaṁ musāvādo nikativañcanāni ca; Ajjhenakuttaṁ paradārasevanā, Esāmagandho na hi maṁsabhojanaṁ.“Killing creatures, mutilation, murder, abduction; stealing, lying, cheating and fraud, learning crooked spells, adultery: this is putrefaction, not eating meat.

5Ở đời, các hạng người,
Không chế ngự lòng dục,
Đam mê các vị ngon,
Liên hệ đến bất tịnh,
Theo chủ nghĩa hư vô,
Bất chánh khó hướng dẫn,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.
Ye idha kāmesu asaññatā janā, Rasesu giddhā asucibhāvamassitā; Natthikadiṭṭhī visamā durannayā, Esāmagandho na hi maṁsabhojanaṁ.People here with unbridled sensuality, greedy for tastes, mixed up in impurity, nihilists, immoral, intractable: this is putrefaction, not eating meat.

6Ai thô bạo, dã man,
Sau lưng nói gièm pha,
Phản bạn không từ bi,
Lại cống cao ngạo mạn,
Tánh không có bố thí,
Không cho ai vật gì,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối,
Ye lūkhasā dāruṇā piṭṭhimaṁsikā, Mittadduno nikkaruṇātimānino; Adānasīlā na ca denti kassaci, Esāmagandho na hi maṁsabhojanaṁ.Tough, callous calumniators, pitiless and arrogant betrayers of friends, misers who never give anything: this is putrefaction, not eating meat.

7Phẫn nộ và kiêu mạn,
Cứng đầu và chống đối
Man trá và tật đố,
Nói vô ích, huênh hoang,
Kiêu mạn và quá mạn,
Thân mật với kẻ ác,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối,
Kodho mado thambho paccupaṭṭhāpanā, Māyā usūyā bhassasamussayo ca; Mānātimāno ca asabbhi santhavo, Esāmagandho na hi maṁsabhojanaṁ.Anger, vanity, obstinacy, contrariness, deceit, jealousy, boastfulness, haughtiness, intimacy with the wicked: this is putrefaction, not eating meat.

8Ác giói, nợ không trả,
Làm người điểm chỉ viên,
Làm những nghề dối trá,
Ở đây, kẻ giả vờ,
Ở đây người bần tiện,
Những người làm ác nghiệp,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối.
Ye pāpasīlā iṇaghātasūcakā, Vohārakūṭā idha pāṭirūpikā; Narādhamā yedha karonti kibbisaṁ, Esāmagandho na hi maṁsabhojanaṁ.The ill-behaved, debt-evaders, informants, business cheats and con-artists, vile men committing sin: this is putrefaction, not eating meat.

9Ở đời đối hữu tình,
Người không biết kiềm chế,
Lấy cướp sở hữu người,
Chú tâm làm hại người,
Ác giới và tàn nhẫn
Ác ngữ, thiếu lễ độ,
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối,
Ye idha pāṇesu asaññatā janā, Paresamādāya vihesamuyyutā; Dussīlaluddā pharusā anādarā, Esāmagandho na hi maṁsabhojanaṁ.People here who can’t stop harming living creatures, taking from others, intent on hurting, immoral, cruel, harsh, lacking regard for others: this is putrefaction, not eating meat.

10Hạng tham ô, thù nghịch,
Tìm cách để giết hại,
Luôn luôn hướng về ác,
Sau chết sanh tối tăm,
Chúng sanh ấy rơi vào,
Địa ngục đầu xuống trước.
Đây là ăn đồ thối,
Ăn thịt không phải thối,
Etesu giddhā viruddhātipātino, Niccuyyutā pecca tamaṁ vajanti ye; Patanti sattā nirayaṁ avaṁsirā, Esāmagandho na hi maṁsabhojanaṁ.Greedy, hostile, aggressive to others, and addicted to evil— those beings pass into darkness, falling headlong into hell: this is putrefaction, not eating meat.

11Không phải do cá thịt,
Cùng các loại nhịn ăn,
Không phải do lõa thể,
Đầu trọc và bện tóc,
Không do tro trét mình,
Mặc da thú khô cứng,
Không phải do săn sóc,
Nuôi dưỡng lửa tế tự,
Không do nhiều khổ hạnh,
Để được chứng bất tử,
Không bùa chú tế tự,
Các tế đàn thời tiết,
Làm con người trong sạch,
Nếu nghi hoặc chưa đoạn.
Na macchamaṁsānamanāsakattaṁ, Na naggiyaṁ na muṇḍiyaṁ jaṭājallaṁ; Kharājināni nāggihuttassupasevanā, Ye vāpi loke amarā bahū tapā; Mantāhutī yaññamutūpasevanā, Sodhenti maccaṁ avitiṇṇakaṅkhaṁ.Not fish or flesh or fasting, nudity or baldness, or dreadlocks or dirt, not rough hides or serving the sacred flame, or the many endless mortifications in the world, not hymns or oblations, sacrifices or seasonal observances, will cleanse a mortal not free of doubt.

12Do sống hộ trì căn,
Với các căn nhiếp phục,
Vững trú trên Chánh pháp,
Thích chân trực, hiền hòa,
Vượt khỏi các tham ái,
Đoạn tận mọi khổ đâu,
Bậc trí không nhiễm dính,
Điều được thấy, được nghe.
Sotesu gutto viditindriyo care, Dhamme ṭhito ajjavamaddave rato; Saṅgātigo sabbadukkhappahīno, Na lippati diṭṭhasutesu dhīro”.Guarding the streams of sense impressions, wander with faculties understood, standing on the teaching, delighting in integrity and tenderness. The attentive have slipped their chains and given up all suffering; they don’t cling to the seen and the heard.”

13Nhiều lần, Thế Tôn thuyết,
Ý nghĩa lời dạy này,
Bậc bác học kệ chú,
Thâm hiểu ý nghĩa ấy.
Bậc ẩn sĩ nói lên,
Với những kệ tuyệt diệu,
Bậc không ăn đồ thối,
Độc lập, khó hướng dẫn.
Iccetamatthaṁ bhagavā punappunaṁ, Akkhāsi naṁ vedayi mantapāragū; Citrāhi gāthāhi munī pakāsayi, Nirāmagandho asito durannayo.The Buddha explained this matter to him again and again, until the master of hymns understood it. It was illustrated with colorful verses by the sage free of putrefaction, unattached, hard to trace.

14Nghe xong những lời dạy,
Lời Thế Tôn khéo nói,
Chấm dứt ăn đồ thối,
Đoạn tận mọi khổ đau,
Vị ấy đảnh lễ Phật,
Với tâm ý nhún nhường,
Thỉnh cầu được cho pháp,
Xuất gia tại nơi đây.
Sutvāna buddhassa subhāsitaṁ padaṁ, Nirāmagandhaṁ sabbadukkhappanūdanaṁ; Nīcamano vandi tathāgatassa, Tattheva pabbajjamarocayitthāti. Āmagandhasuttaṁ dutiyaṁ.Having heard the fine words of the Buddha, that are free of putrefaction, casting aside all suffering; humbled, he bowed to the Realized One, and right away begged to go forth.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 2.2 (Āmagandha Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.2 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp