Phật Thuyết Như Vậy 73 · Iti 73

Kinh Tịch Tịnh Hơn

Santatara Sutta

Kinh Tịch Tịnh Hơn so sánh mức độ an tịnh giữa sắc pháp, vô sắc pháp và đoạn diệt, rồi nêu kết quả khác nhau của người không quán tri đoạn diệt và người liễu tri sắc pháp.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Các pháp vô sắc an tịnh hơn các sắc pháp.
  • Đoạn diệt an tịnh hơn các pháp vô sắc.
  • Người liễu tri sắc và giải thoát trong đoạn diệt sẽ bỏ rơi thần chết, trái với người không quán tri đoạn diệt.

Kinh Tịch Tịnh Hơn thuộc bộ Kinh Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu Iti 73. Kinh gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và so sánh mức độ an tịnh giữa sắc pháp, vô sắc pháp và đoạn diệt, trong đó chữ santatarā, an tịnh hơn, là từ khóa cho toàn bài. Kinh mở đầu bằng lời ghi nhận về điều đã được nghe, rồi nêu nội dung chính, và kết thúc bằng một bài kệ dài hơn về hai nhóm chúng sanh có kết quả khác nhau.

Nội dung chính của kinh chỉ gói trong một câu so sánh ngắn, nhưng bài kệ sau đó triển khai đầy đủ hai trường hợp đối lập và kết thúc bằng lời thuyết giảng về con đường không sầu muộn và không cấu uế. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cách trình bày này giúp bạn đọc thấy rõ vì sao đoạn diệt được đặt ở vị trí cao nhất trong mạch so sánh của kinh.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
santatarā
an tịnh hơn
arūpā
các pháp vô sắc
nirodho
sự đoạn diệt
punabbhavaṁ
sự tái sanh
vimuccanti
được giải thoát
anāsavo
không lậu hoặc
āsava
lậu hoặc (theo cách giải nghĩa của người viết)
amatadhātu
yếu tố bất tử (theo cách giải nghĩa của người viết)

Kinh Tịch Tịnh Hơn

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, các pháp vô sắc an tịnh tốt hơn các sắc pháp; đoạn diệt an tịnh tốt hơn các pháp vô sắc.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Rūpehi, bhikkhave, arūpā santatarā, arūpehi nirodho santataro”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, formless states are more peaceful than states of form; cessation is more peaceful than formless states.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Chúng sanh đi đến sắc,
Có chúng trú vô sắc,
Không quán tri đoạn diệt,
Họ đi đến tái sanh.
Những ai liễu tri sắc,
Không an trú vô sắc,
Chính trong sự đoạn diệt,
Họ đạt được giải thoát,
Các hạng người như vậy,
Họ bỏ rơi thần chết.
Với thân cảm xúc được,
Bất tử không sanh y,
Sanh y được xả ly,
Chứng được, không lậu hoặc,
Vị Chánh đẳng Chánh giác,
Thuyết giảng về con đường
Con đường không sầu muộn
Con đường không cấu uế.
“Ye ca rūpūpagā sattā,
ye ca arūpaṭṭhāyino;
Nirodhaṁ appajānantā,
āgantāro punabbhavaṁ.
Ye ca rūpe pariññāya,
arūpesu asaṇṭhitā;
Nirodhe ye vimuccanti,
te janā maccuhāyino.
Kāyena amatadhātuṁ,
phusayitvā nirūpadhiṁ;
Upadhippaṭinissaggaṁ,
sacchikatvā anāsavo;
Deseti sammāsambuddho,
asokaṁ virajaṁ padan”ti.
“There are beings in the realm of luminous form, and others stuck in the formless. Not understanding cessation, they return in future lives. But the people who completely understand form, not stuck in the formless, released in cessation— they are conquerors of death. Having directly experienced <j>the element free of death, free of attachments; having realized relinquishment of attachments, the undefiled fully awakened Buddha teaches the sorrowless, stainless state.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe:Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Catutthaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh nêu một thứ bậc an tịnh rõ ràng, trong đó các pháp vô sắc an tịnh hơn các sắc pháp, và đoạn diệt an tịnh hơn các pháp vô sắc. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thứ bậc này không nhằm chê bai sắc pháp mà nhằm chỉ ra hướng đi, từ chỗ còn nương tựa vào hình sắc đến chỗ không còn nương tựa vào cả vô sắc.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người sau giờ làm ồn ào bước vào căn phòng yên tĩnh và thấy dễ chịu hơn, rồi khi người ấy buông hẳn một cuộc tranh cãi trong đầu thì tâm lắng xuống thêm một mức nữa.

Bài kệ đối chiếu hai nhóm chúng sanh, một bên đi đến sắc hoặc trú ở vô sắc mà không quán tri đoạn diệt nên đi đến tái sanh, bên còn lại liễu tri sắc, không an trú vô sắc và đạt giải thoát trong đoạn diệt nên bỏ rơi thần chết. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điểm phân biệt ở đây không phải chỗ trú mà là có quán tri đoạn diệt hay không.

Phần cuối bài kệ nói về người cảm nhận bằng thân yếu tố bất tử không sanh y, xả ly sanh y và chứng được trạng thái không lậu hoặc, rồi nhắc đến vị Chánh đẳng Chánh giác thuyết giảng con đường không sầu muộn và không cấu uế. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, đoạn kết này đặt đoạn diệt vào trung tâm con đường mà kinh muốn giới thiệu với bạn đọc.

Trong Kinh Tịch Tịnh Hơn, đoạn diệt được nêu là an tịnh hơn cả sắc pháp và vô sắc pháp.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 73 (Santatara Sutta, Itivuttaka 73). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 73 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp