Kinh Sống Lạc
Sukhavihāra Sutta
Kinh Sống Lạc nói về hai pháp làm cho một vị Tỷ-kheo ngay trong hiện tại an trú an lạc, không có hoạn nạn, không có ưu não.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp là hộ trì các căn và tiết độ trong ăn uống thì ngay hiện tại an trú an lạc.
- Sáu cửa là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, khi được khéo hộ trì thì an lạc về thân và an lạc về tâm đều khởi lên.
- Người an trú lạc như vậy thì thân không bị thiêu đốt, tâm không bị thiêu đốt, dầu là đêm hay ngày.
Kinh Sống Lạc thuộc Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và nêu hai pháp làm cho đời sống ngay hiện tại trở thành an lạc. Kinh mở đầu bằng lời kể lại điều Thế Tôn đã nói, rồi nêu hai pháp ấy một cách trực tiếp, và kết bằng bài kệ liệt kê sáu cửa và quả của việc khéo hộ trì.
Cấu trúc của kinh đi từ văn xuôi sang kệ. Phần văn xuôi ở đoạn 1.1 đến 2.8 nêu hai pháp và quả của chúng trong hiện tại và sau khi thân hoại mạng chung. Phần kệ ở đoạn 3.1 đến 5.4 nhắc lại sáu cửa, nói về ăn uống có tiết độ, và mô tả thân và tâm không bị thiêu đốt cả ngày lẫn đêm.
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh nói về lạc ngay trong hiện tại trước khi nói về đời sau, nên người đọc có thể kiểm chứng điều dạy bằng chính đời sống hằng ngày của bản thân.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- indriya
- căn, giác quan
- guttadvāratā
- hộ trì các cửa
- bhojana
- ăn uống
- mattaññutā
- tiết độ, biết chừng mực
- sukha
- lạc, an lạc
- sugati
- thiện thú, cảnh giới tốt
- kāya
- thân
- ceto
- tâm
- bhikkhu
- Tỷ-kheo, vị xuất gia theo Phật
- dvāra
- cửa, lối vào của giác quan
Kinh Sống Lạc
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp, ngay trong hiện tại, an trú an lạc, không có hoạn nạn, không có ưu não, không có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là thiện thú. Thế nào là hai? Hộ trì các căn và tiết độ trong ăn uống. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ hai pháp này, ngay trong hiện tại, an trú an lạc, không có hoạn nạn, không có ưu não, không có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là thiện thú.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhaṁ viharati avighātaṁ anupāyāsaṁ apariḷāhaṁ; kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugati pāṭikaṅkhā. Katamehi dvīhi? Indriyesu guttadvāratāya ca, bhojane mattaññutāya ca. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhaṁ viharati avighātaṁ anupāyāsaṁ apariḷāhaṁ; kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugati pāṭikaṅkhā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, when a mendicant has two qualities they live happily in this very life—without distress, anguish, and fever— and when the body breaks up, after death, they can expect a good rebirth. What two? Guarding the sense doors and moderation in eating. When a mendicant possesses these two qualities they live happily in this very life—without distress, anguish, and fever— and when the body breaks up, after death, they can expect a good rebirth.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Mắt, tai, mũi và lưỡi,
Kể cả thân và ý,
Những cửa này ở đây,
Tỷ-kheo khéo hộ trì,
Ăn uống có tiết độ,
An lạc về thân thể,
Các căn có hộ trì,
An lạc về tâm tư,
Vị ấy được thọ lãnh
Những an lạc như vậy.
Thân không bị thiêu đốt,
Tâm không bị thiêu đốt,
Dầu là đêm hay ngày,
An trú lạc như vậy.“Cakkhu sotañca ghānañca,
jivhā kāyo tathā mano;
Etāni yassa dvārāni,
suguttāni ca bhikkhuno.
Bhojanamhi ca mattaññū,
indriyesu ca saṁvuto;
Kāyasukhaṁ cetosukhaṁ,
sukhaṁ so adhigacchati.
Aḍayhamānena kāyena,
Aḍayhamānena cetasā;
Divā vā yadi vā rattiṁ,
Sukhaṁ viharati tādiso”ti.“Eye, ear, nose, tongue, body, and likewise mind: a mendicant who makes these sense doors well guarded— eating in moderation, restrained in the sense faculties— reaps happiness both physical and mental. Not burning in body, not burning in mind, by day or by night such a person lives in happiness.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dutiyaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nêu hai pháp đi đôi với nhau: hộ trì các căn và tiết độ trong ăn uống. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hộ trì các căn là giữ cho sáu cửa không trở thành chỗ tâm bị lôi kéo đi, và tiết độ trong ăn uống là giữ cho thân không bị nặng nề vì ăn quá mức.
Bài kệ liệt kê sáu cửa là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Khi các cửa này được khéo hộ trì thì an lạc về thân thể và an lạc về tâm tư đều khởi lên. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, an lạc ở đây không phải là niềm vui do một đối tượng bên ngoài mang lại mà là sự nhẹ nhàng khi tâm không bị xô đẩy liên tục.
Ăn uống có tiết độ được nêu riêng bên cạnh sáu cửa. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, ăn vừa đủ giúp thân nhẹ nhàng và tâm tỉnh táo, và chính sự tỉnh táo ấy lại giúp việc hộ trì các căn dễ dàng hơn, nên hai pháp nâng đỡ lẫn nhau.
Ví dụ đời thường của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải trước đây hay ăn thật no vào buổi tối rồi nằm xem điện thoại, sáng dậy người nặng nề và tâm bứt rứt, từ khi chú ăn vừa đủ và dừng điện thoại sớm thì giấc ngủ sâu hơn và buổi sáng nhẹ nhàng hơn.
Bài kệ kết bằng hình ảnh thân không bị thiêu đốt và tâm không bị thiêu đốt, dầu là đêm hay ngày. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh này nói về một trạng thái ổn định kéo dài cả ngày lẫn đêm, khác hẳn với niềm vui ngắn ngủi rồi lại mất.
Hộ trì các căn và tiết độ trong ăn uống thì ngay hiện tại đã an trú trong lạc.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 29 (Sukhavihāra Sutta, Itivuttaka 29). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 29 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.