Kinh Sūciloma
Sūciloma Sutta
Còn gọi là: Kinh Suciloma, Kinh Tập 2.5
Một dạ-xoa thân đầy lông nhọn như kim ghé sát vào Đức Phật để thử xem Ngài có sợ không. Rồi nó hỏi một câu ai cũng nên hỏi: tham và sân trong lòng ta từ đâu mà ra?
Trước khi đọc kinh
Kinh Sūciloma (Sūciloma Sutta) là bài kinh thứ năm trong phẩm Tiểu (Cūḷavagga) của Kinh Tập; cùng bài kinh này cũng có trong Tương Ưng Bộ (SN 10.3). Đức Phật trú gần Gayā, trên chiếc giường đá, nơi ở của dạ-xoa (yakkha) Sūciloma (đoạn 1.2). Hai dạ-xoa Khara và Sūciloma đi ngang qua; Khara nói kia là một vị Sa-môn, Sūciloma cãi lại rằng đó chỉ là kẻ trông giống Sa-môn, để nó thử xem (đoạn 1.5–1.7). Nó ghé sát thân mình vào thân Đức Phật, Ngài nghiêng người tránh ra; nó hỏi “Ông sợ ta sao?”, Ngài đáp: ta không sợ ông, chỉ là sự đụng chạm của ông thật khó chịu (đoạn 2.1–2.6). Nó dọa sẽ làm tâm Ngài điên loạn, làm vỡ tim Ngài, ném Ngài sang bờ bên kia sông Hằng; Đức Phật đáp rằng trong thế gian không ai làm được điều ấy, nhưng ông muốn hỏi gì thì cứ hỏi (đoạn 3.2–4.2). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), chiếc giường đá là một phiến đá rộng đặt trên bốn hòn đá, ở gần bến tắm Gayā; sáng sớm hôm ấy Đức Phật quán thấy cả hai dạ-xoa có duyên chứng quả Nhập lưu nên đến ngồi ở đó. Chú giải cũng giải vì sao Sūciloma nói vậy: nó tin rằng ai còn biết sợ thì không phải Sa-môn thật.
Chú giải kể tiền thân hai vị. Khara thuở trước đã lấy dầu của Tăng chúng mà không xin phép, đem xoa lên thân mình; vì nghiệp ấy, sau khi chịu khổ ở địa ngục, vị ấy sinh làm dạ-xoa bên hồ Gayā, da thô ráp như ngói lợp. Sūciloma vào thời Phật Ca-diếp (Kassapa) là một cận sự nam (các vị tụng Tương Ưng Bộ thì nói là một vị Tỷ-kheo); một hôm nghe báo giờ nghe Pháp, ngại tắm rửa mất thời gian, thân còn lấm bẩn mà vào nằm ngủ trên tấm thảm quý trong giảng đường Bố-tát, nên nay thân mọc lông như kim. Câu hỏi của nó: tham, sân, sự chán chường, sự ưa thích, nỗi sợ dựng tóc gáy từ đâu mà có; các ý nghĩ từ đâu khởi lên quăng quật tâm ý, như lũ trẻ buộc dây chân con quạ rồi tung đi (kệ 5.1–5.4)? Đức Phật đáp: từ nơi đây (kệ 6.1–6.4). Theo chú giải, “nơi đây” là chính thân tâm này, năm uẩn mà ta gọi là “tôi”. Chúng sinh ra từ lòng ái luyến như rễ phụ cây đa mọc ra nhờ nhựa của thân cây, rồi bám chằng chịt vào các dục như dây leo māluvā giăng khắp rừng (kệ 7.1–7.4). Ai biết rõ gốc của chúng thì xua tan được, và vượt qua dòng nước lũ xưa nay chưa từng vượt (kệ 8.1–8.4). Chú giải nói bài kệ cuối gói trọn bốn Thánh đế, và khi bài kệ vừa dứt, cả hai dạ-xoa chứng quả Nhập lưu.
Ta thường đổ cho người khác làm mình giận, cho hoàn cảnh làm mình tham. Câu trả lời “từ nơi đây” đưa ta trở về: hạt giống nằm trong chính lòng mình. Điều này không có nghĩa là tự trách, mà là có chỗ để bắt đầu sửa, vì cái gì ở trong mình thì mình có thể chăm sóc. Hình ảnh dây leo māluvā cũng có trong Pháp Cú phẩm Tham Ái: với người sống phóng dật, tham ái lớn dần như dây leo māluvā (kệ 334). Cách Đức Phật nghiêng người tránh ra, không sợ mà cũng không giận, là một bài học nhỏ: bạn có thể từ chối một điều khó chịu mà lòng vẫn bình thản. Lần tới khi cơn bực bội nổi lên, bạn thử dừng lại một hơi thở và hỏi như dạ-xoa: “Cái này từ đâu ra?”, rồi nhìn vào trong.
Ý chính
- Sūciloma ghé sát vào thân Đức Phật; Ngài tránh ra, không sợ, chỉ nói sự đụng chạm ấy khó chịu (2.1–2.6).
- Không ai trong thế gian làm hại được Đức Phật, nhưng Ngài vẫn để dạ-xoa hỏi điều nó muốn (4.1–4.2).
- Tham, sân, chán chường, ưa thích, nỗi sợ và các ý nghĩ quăng quật tâm đều có từ nơi đây (6.1–6.4).
- Chúng sinh ra từ ái luyến, khởi lên nơi chính mình, như rễ phụ mọc ra từ thân cây đa (7.1–7.2).
- Chúng bám chằng chịt vào các dục như dây leo giăng khắp khu rừng (7.3–7.4).
- Ai biết rõ chúng từ đâu mà có thì xua tan được, vượt dòng nước lũ, không còn tái sinh (8.1–8.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- yakkha
- dạ-xoa, loài phi nhân có thần lực
- sūciloma
- lông như kim; tên của dạ-xoa
- rāga / dosa
- tham / sân
- arati / rati
- sự chán chường / sự ưa thích; theo chú giải là chán chỗ thanh vắng và việc thiện cao hơn, và ưa thích năm dục lạc
- lomahaṁsa
- sự sợ hãi làm dựng tóc gáy
- manovitakka
- các ý nghĩ trong tâm
- sneha
- lòng ái luyến; nghĩa đen là chất nhựa, chất dầu
- ogha
- dòng nước lũ; theo chú giải là bốn dòng nước lũ cuốn chúng sinh trong luân hồi
Kinh Sūciloma
1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại Gayà, ở Tamkitamanca tại trú xứ của Dạ-xoa Sùciloma. Lúc bấy giờ, Dạ-xoa Khara, Dạ-xoa Sùciloma đi qua Thế Tôn không bao xa. Dạ-xoa Khara nói với Dạ-xoa Sùciloma: Đây là Sa-môn. Đây không phải là Sa-môn. Đây là Sa-môn hay là Sa-môn giả hiệu. Rồi Dạ-xoa Sùciloma đi đến Thế Tôn, sau khi đến cọ xát thân Thế Tôn. Thế Tôn tránh né thân của mình, rồi Dạ-xoa Sùciloma nói với Thế Tôn:Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā gayāyaṁ viharati ṭaṅkitamañce sūcilomassa yakkhassa bhavane. Tena kho pana samayena kharo ca yakkho sūcilomo ca yakkho bhagavato avidūre atikkamanti. Atha kho kharo yakkho sūcilomaṁ yakkhaṁ etadavoca: “eso samaṇo”ti. “Neso samaṇo, samaṇako eso. Yāvāhaṁ jānāmi yadi vā so samaṇo, yadi vā so samaṇako”ti.So I have heard. At one time the Buddha was staying near Gayā on the cut-stone ledge in the haunt of Spiky the native spirit. Now at that time the native spirits Shaggy and Spiky were passing by not far from the Buddha. So Shaggy said to Spiky, “That’s an ascetic.” “That’s no ascetic, he’s a faker! I’ll soon find out whether he’s an ascetic or a faker.”
2- Có phải Sa-môn sợ ta?
- Này Hiền giả, Ta không sợ Ông, nhưng xúc phạm với Ông là ác.
- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ngài, nếu Ngài không trả lời cho ta, ta sẽ làm cho tâm Ngài điên loạn, hay bóp nát quả tim của Ngài, hay nắm chân của Ngài, ta sẽ quăng qua bờ bên kia sông Hằng.Atha kho sūcilomo yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato kāyaṁ upanāmesi. Atha kho bhagavā kāyaṁ apanāmesi. Atha kho sūcilomo yakkho bhagavantaṁ etadavoca: “bhāyasi maṁ, samaṇā”ti? “Na khvāhaṁ taṁ, āvuso, bhāyāmi; api ca te samphasso pāpako”ti.Then Spiky went up to the Buddha and leaned up against his body, but the Buddha pulled away. Then Spiky said to the Buddha, “Are you afraid, ascetic?” “No, respectable sir, I’m not afraid. But your touch is nasty.”
3–4- Này Hiền giả, Ta không thấy một ai trong thế giới chư Thiên, với chư Thiên, Ác ma và Phạm Thiên, trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, lại có thể làm cho tâm Ta điên loạn hay bóp nát quả tim của Ta, hay nắm chân của Ta, sẽ quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, Ông cứ hỏi Ta như ý Ông muốn.
Rồi Dạ-xoa Sùciloma với câu kệ nói với Thế Tôn:“Pañhaṁ taṁ, samaṇa, pucchissāmi. Sace me na byākarissasi, cittaṁ vā te khipissāmi, hadayaṁ vā te phālessāmi, pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya khipissāmī”ti. “Na khvāhaṁ taṁ, āvuso, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yo me cittaṁ vā khipeyya hadayaṁ vā phāleyya pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya khipeyya. Api ca tvaṁ, āvuso, puccha yadākaṅkhasī”ti. Atha kho sūcilomo yakkho bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:“I will ask you a question, ascetic. If you don’t answer me, I’ll drive you insane, or explode your heart, or grab you by the feet and throw you to the far shore of the Ganges!” “I don’t see anyone in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans who could do that to me. But anyway, ask what you wish.” Then Spiky addressed the Buddha in verse:
5Sùciloma:
Từ những nguyên nhân nào,
Tham và sân khởi lên?
Không ưa thích, ưa thích,
Sợ hãi từ đâu sanh?
Từ đâu được sanh khởi,
Các suy tầm của ý,
Như đứa trẻ độc ác,
Thả cho con quạ bay?“Rāgo ca doso ca kutonidānā, Aratī ratī lomahaṁso kutojā; Kuto samuṭṭhāya manovitakkā, Kumārakā dhaṅkamivossajanti”.“Where do greed and hate come from? From where spring discontent, desire, and terror? Where do the mind’s thoughts originate, like a crow let loose by boys.”
6Thế Tôn:
Từ những nguyên nhân này,
Tham, sân được khởi lên,
Không ưa thích, ưa thích,
Sợ hãi từ đây sanh,
Từ đây được sanh khởi,
Các suy tầm của ý,
Như đứa trẻ độc ác,
Thả cho con quạ bay.“Rāgo ca doso ca itonidānā, Aratī ratī lomahaṁso itojā; Ito samuṭṭhāya manovitakkā, Kumārakā dhaṅkamivossajanti.“Greed and hate come from here; from here spring discontent, desire, and terror; here’s where the mind’s thoughts originate, like a crow let loose by boys.
7Sự hiện hữu của ngã,
Chính do thân ái sanh,
Như các loại cây bàng,
Do thân cây bàng sanh.
Sự triền phược các dục,
Thật rộng lớn vô cùng,
Như cây Màluvà,
Tỏa rộng lan khắp rừng.Snehajā attasambhūtā, Nigrodhasseva khandhajā; Puthū visattā kāmesu, Māluvāva vitatāvane.Born of affection, originating in oneself, like prop roots sprouting from a banyan; the many kinds of attachment to sensual pleasures are like camel’s foot creeper creeping through the woods.
8Hãy nghe! Này Dạ-xoa,
Những ai được rõ biết
Từ đâu, khiến sanh khởi,
Họ tẩy sạch nhân ấy.
Họ vượt qua dòng nước,
Chảy mạnh khổ vượt này,
Trước chưa được vượt qua,
Không còn có tái sanh.Ye naṁ pajānanti yatonidānaṁ, Te naṁ vinodenti suṇohi yakkha; Te duttaraṁ oghamimaṁ taranti, Atiṇṇapubbaṁ apunabbhavāyā”ti. Sūcilomasuttaṁ pañcamaṁ.Those who understand where they come from dispel them—listen up, spirit! They cross this flood so hard to cross, not crossed before, so as to not be reborn.”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 2.5 (Sūciloma Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.5 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.