Pháp Cú, kệ 334–359 · Dhp 334–359

Kinh Pháp Cú, Phẩm Tham Ái

Dhammapada, Taṇhāvagga

Còn gọi là: Phẩm Ái Dục

Hai mươi sáu bài kệ về ái, cơn khát không bao giờ đủ: ái mọc như dây leo, trói như xiềng xích, và con đường nhổ tận gốc rễ của nó.

Trước khi đọc kinh

Phẩm thứ hai mươi bốn của Kinh Pháp Cú mang tên Taṇhā, ái hay tham ái, cơn khát không bao giờ đủ. Với hai mươi sáu bài kệ, đây là phẩm dài thứ hai của Kinh Pháp Cú, chỉ sau phẩm Bà-la-môn (41 bài kệ), và gần như bài nào cũng có một hình ảnh dễ nhớ. Người sống phóng dật thì ái lớn dần như dây leo quấn cây, người ấy nhảy từ chỗ này sang chỗ khác như con khỉ trong rừng thèm trái (kệ 334). Ai bị ái khống chế thì sầu muộn mọc lên như cỏ gặp mưa; ai vượt được nó thì sầu muộn rơi khỏi người ấy như giọt nước trên lá sen (kệ 335–336). Theo chú giải, bốn bài kệ đầu gắn với chuyện con cá Kapila: vào thời Đức Phật Ca-diếp (Kassapa), Tỷ-kheo Kapila học rộng nhưng say danh lợi, bảo điều hợp luật là không hợp luật, điều không hợp luật là hợp luật, mắng nhiếc các vị Tỷ-kheo hiền thiện; sau khi đọa địa ngục, vị ấy tái sinh làm một con cá mình vàng óng mà miệng hôi thối ở sông Aciravatī, bị ngư dân bắt được và đem dâng vua. Cây đốn rồi vẫn mọc lại khi rễ còn chắc; khổ cũng sinh ra mãi chừng nào tùy miên của ái chưa bị nhổ bỏ (kệ 338).

Các bài kệ kế tiếp nói về ái như dòng chảy, như dây leo, như dây trói. Ba mươi sáu dòng chảy cuốn người có cái thấy lệch lạc theo những ý nghĩ nương vào tham dục; thấy dây leo mọc lên thì hãy dùng trí tuệ chặt đứt gốc (kệ 339–340). Chúng sinh bị khát ái dẫn đầu thì chạy quanh quẩn như con thỏ mắc bẫy (kệ 342–343). Hai bài kệ 345–346 nói một điều người tại gia dễ thấy trong đời mình: xiềng sắt, cùm gỗ, dây gai chưa phải là trói buộc bền chắc; lòng say đắm ngọc ngà, hoa tai, sự vương vấn vợ con mới là dây trói bền chắc, trông lỏng mà khó gỡ. Theo chú giải, các Tỷ-kheo đi khất thực ở Xá-vệ (Sāvatthī) thấy tù nhân bị xiềng, về hỏi Đức Phật có loại trói buộc nào chắc hơn thế không. Kệ 347 ví người say đắm tham dục với con nhện mắc vào lưới tự mình giăng; theo chú giải, bài kệ được nói cho hoàng hậu Khemā, vợ vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra), người vốn kiêu hãnh về sắc đẹp, tỉnh ngộ khi thấy hình ảnh một thiếu nữ xinh đẹp do Đức Phật hóa hiện già đi đến chỉ còn bộ xương, về sau xuất gia và trở thành vị nữ đệ tử hàng đầu. Kệ 348 là lời Đức Phật nói với Uggasena, chàng con nhà giàu bỏ nhà theo gánh làm trò vì mê cô con gái trong gánh, khi chàng đang đứng trên đỉnh ngọn sào cao: buông cái trước, buông cái sau, buông cả ở giữa. Chú giải giải thích đó là buông sự bám víu vào năm uẩn quá khứ, vị lai và hiện tại, và chàng chứng A-la-hán ngay trên đỉnh sào.

Kệ 351–352, theo chú giải, nói về Ngài La-hầu-la (Rāhula), khi Ma vương hóa thành con voi lớn quấn vòi quanh đầu vị ấy đang nằm trước hương thất của Đức Phật: người đã đến đích, không run sợ, lìa ái, thân này là thân sau cùng. Kệ 353 là lời Đức Phật nói với du sĩ Upaka trên đường đến Ba-la-nại (Bārāṇasī) sau khi thành đạo: tự mình chứng biết, Ta còn nhận ai làm thầy. Kệ 354 rất được yêu thích: quà tặng Pháp đứng trên mọi quà tặng, hương vị Pháp đứng trên mọi hương vị, niềm vui với Pháp đứng trên mọi niềm vui, ái cạn sạch thì khuất phục mọi khổ đau. Theo chú giải, chư thiên cõi trời Ba Mươi Ba nêu ra bốn câu hỏi ấy, đi hỏi khắp nơi suốt mười hai năm không ai giải được, nên Thiên chủ Đế Thích (Sakka) đưa họ đến hỏi Đức Phật; nghe xong, Đế Thích xin được chia phần phước của việc thí Pháp, và từ đó Đức Phật dạy các Tỷ-kheo sau mỗi thời Pháp, dù chỉ là lời chúc phúc, hãy hồi hướng phước đến mọi chúng sinh. Phẩm kết bằng lời cảnh tỉnh về của cải: tài sản giết hại kẻ thiếu trí, không hại người tìm bờ bên kia (kệ 355), và bốn bài kệ về ruộng phước: ruộng hư vì cỏ dại, người hư vì tham, sân, si và lòng mong cầu, nên vật dâng đến người đã lìa các điều ấy đem lại quả lớn (kệ 356–359).

Ý chính

  • Người sống phóng dật, ái lớn như dây leo, nhảy chỗ này sang chỗ khác như khỉ tìm trái (kệ 334).
  • Rễ còn chắc thì cây đốn vẫn mọc; tùy miên của ái chưa nhổ thì khổ cứ sinh ra (kệ 338).
  • Say đắm của cải, vương vấn vợ con là dây trói bền chắc hơn xiềng sắt (kệ 345–346).
  • Buông cái trước, cái sau, cả ở giữa để không còn trở lại với sinh và già (kệ 348).
  • Quà tặng Pháp đứng trên mọi quà tặng; ái cạn sạch thì khuất phục mọi khổ đau (kệ 354).
  • Vật dâng đến người đã lìa tham, sân, si đem lại quả lớn (kệ 356–358).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
taṇhā
ái, khát ái
māluvā
dây leo māluvā, loại dây quấn chết cây chủ
anusaya
tùy miên, khuynh hướng ngủ ngầm
bandhana
dây trói, xiềng xích
pāragū
người đã đến bờ bên kia
asubha
bất tịnh
dhammadāna
thí Pháp, món quà Pháp
taṇhakkhaya
sự diệt tận của ái

Tích truyện các bài kệĐức Phật nói mỗi bài kệ trong một hoàn cảnh riêng. Đọc 12 tích truyện của phẩm Tham Ái theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Thiền viện Viên Chiếu dịch): xem các tích ›

Kinh Pháp Cú, Phẩm Tham Ái

Chuyện con cá KapilaKapilamacchavatthu Đọc tích truyện ›

334.1Người sống đời phóng dật,Manujassa pamattacārino,When a man lives heedlessly,

334.2Ái tăng như dây leo.Taṇhā vaḍḍhati māluvā viya;craving grows in them like a camel’s foot creeper.

334.3Nhảy đời này đời khác,So plavatī hurā huraṁ,They jump from one thing to the next, like a langur

334.4Như vượn tham quả rừng.Phalamicchaṁva vanasmi vānaro.greedy for fruit in a forest grove.

335.1Ai sống trong đời này,Yaṁ esā sahate jammī,Whoever is beaten by this wretched craving,

335.2Bị ái dục buộc ràngtaṇhā loke visattikā;this attachment to the world,

335.3Sầu khổ sẽ tăng trưởng,Sokā tassa pavaḍḍhanti,their sorrow grows,

335.4Như cỏ bi gặp mưa.abhivaṭṭhaṁva bīraṇaṁ.like grass in the rain.

336.1Ai sống trong đời nàyYo cetaṁ sahate jammiṁ,But whoever prevails over this wretched craving,

336.2Ái dục được hàng phụctaṇhaṁ loke duraccayaṁ;so hard to get over in the world,

336.3Sầu rơi khỏi người ấySokā tamhā papatanti,their sorrows fall from them,

336.4Như giọt nước lá sen.udabinduva pokkharā.like a drop from a lotus-leaf.

337.1Đây điều lành Ta dạy,Taṁ vo vadāmi bhaddaṁ vo,I say this to you, good people,

337.2Các người tụ họp đây,yāvantettha samāgatā;all those who have gathered here:

337.3Hãy nhổ tận gốc áiTaṇhāya mūlaṁ khaṇatha,dig up the root of craving,

337.4Như nhổ gốc cỏ bi.usīratthova bīraṇaṁ;as you’d dig up grass in search of roots.

337.5Chớ để ma phá hoại,Mā vo naḷaṁva sotova,Don’t let Māra break you again and again,

337.6Như dòng nước cỏ lau.māro bhañji punappunaṁ.like a stream breaking a reed.

Chuyện con heo nái nhỏSūkarapotikāvatthu Đọc tích truyện ›

338.1Như cây bị chặt đốn,Yathāpi mūle anupaddave daḷhe,A tree grows back even when cut down,

338.2Gốc chưa hại vẫn bềnChinnopi rukkho punareva rūhati;so long as its roots are strong and undamaged;

338.3Ái tùy miên chưa nhổ,Evampi taṇhānusaye anūhate,suffering springs up again and again,

338.4Khổ này vẫn sanh hoài.Nibbattatī dukkhamidaṁ punappunaṁ.so long as the tendency to craving is not pulled out.

339.1Ba mươi sáu dòng ái,Yassa chattiṁsati sotā,A person of low views

339.2Trôi người đến khả ái.manāpasavanā bhusā;in whom the thirty-six streams

339.3Các tư tưởng tham ái.Mahāvahanti duddiṭṭhiṁ,that flow to pleasure are mighty,

339.4Cuốn trôi người tà kiến.saṅkappā rāganissitā.is swept away by lustful thoughts.

340.1Dòng ái dục chảy khắp,Savanti sabbadhi sotā,The streams flow everywhere;

340.2Như giây leo mọc tràn,latā uppajja tiṭṭhati;a weed springs up and remains.

340.3Thấy giây leo vừa sanh,Tañca disvā lataṁ jātaṁ,Seeing this weed that has been born,

340.4Với tuệ, hãy đoạn gốc.mūlaṁ paññāya chindatha.cut the root with wisdom.

341.1Người đời nhớ ái dục,Saritāni sinehitāni ca,A personage’s joys

341.2Ưa thích các hỷ lạc.Somanassāni bhavanti jantuno;flow from senses and cravings.

341.3Tuy mong cầu an lạc,Te sātasitā sukhesino,Seekers of happiness, bent on pleasure,

341.4Chúng vẫn phải sanh già.Te ve jātijarūpagā narā.continue to be reborn and grow old.

342.1Người bị ái buộc ràng,Tasiṇāya purakkhatā pajā,People governed by thirst,

342.2Vùng vẫy và hoảng sợ,Parisappanti sasova bandhito;crawl about like a trapped rabbit.

342.3Như thỏ bị sa lưới.Saṁyojanasaṅgasattakā,Bound and fettered, for a long time

342.4Chúng sanh ái trói buộc,
Chịu khổ đau dài dài.
Dukkhamupenti punappunaṁ cirāya.they return to pain time and again.

343.1Người bị ái buộc ràng,Tasiṇāya purakkhatā pajā,People governed by thirst,

343.2Vùng vẫy và hoảng sợ,Parisappanti sasova bandhito;crawl about like a trapped rabbit.

343.3Như thỏ bị sa lưới.Tasmā tasiṇaṁ vinodaye,That’s why one who longs for dispassion

343.4Do vậy vị tỷ kheo,
Mong cầu mình ly tham
Nên nhiếp phục ái dục.
Ākaṅkhanta virāgamattano.should dispel thirst.

Chuyện vị Tỷ-kheo hoàn tụcVibbhantabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›

344.1Lìa rừng lại hướng rừngYo nibbanatho vanādhimutto,Unsnarled, they set out for the jungle,

344.2Thoát rừng chạy theo rừng.Vanamutto vanameva dhāvati;then they run right back to the jungle they left behind.

344.3Nên xem người như vậy,Taṁ puggalametha passatha,Just look at this individual!

344.4Được thoát khỏi buộc ràng.
Lại chạy theo ràng buộc.
Mutto bandhanameva dhāvati.Freed, they run to bondage.

Chuyện ngục tùBandhanāgāravatthu Đọc tích truyện ›

345.1Sắt, cây, gai trói buộcNa taṁ daḷhaṁ bandhanamāhu dhīrā,The attentive say that shackle is not strong

345.2Người trí xem chưa bền.Yadāyasaṁ dārujapabbajañca;that’s made of iron, wood, or knots.

345.3Tham châu báu, trang sứcSārattarattā maṇikuṇḍalesu,But obsession with jeweled earrings,

345.4Tham vọng vợ và con.Puttesu dāresu ca yā apekkhā.concern for your partners and children:

346.1Người có trí nói rằng:Etaṁ daḷhaṁ bandhanamāhu dhīrā,this, say the attentive, is a strong shackle

346.2Trói buộc này thật bền.Ohārinaṁ sithilaṁ duppamuñcaṁ;dragging the indulgent down, hard to escape.

346.3Trì kéo xuống, lún xuống,Etampi chetvāna paribbajanti,Having cut this one too they go forth,

346.4Nhưng thật sự khó thoát.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ dục lạc, không màng.
Anapekkhino kāmasukhaṁ pahāya.unconcerned, having given up sensual pleasures.

Chuyện Trưởng lão Ni KhemāKhemātherīvatthu Đọc tích truyện ›

347.1Người đắm say ái dụcYe rāgarattānupatanti sotaṁ,Besotted by lust they fall into the stream,

347.2Tự lao mình xuống dòngSayaṅkataṁ makkaṭakova jālaṁ;like a spider caught in the web she wove.

347.3Như nhện sa lưới dệt.Etampi chetvāna vajanti dhīrā,The attentive proceed, having cut this one too,

347.4Người trí cắt trừ nó,
Bỏ mọi khổ, không màng.
Anapekkhino sabbadukkhaṁ pahāya.unconcerned, having given up all suffering.

Chuyện UggasenaUggasenavatthu Đọc tích truyện ›

348.1Bỏ quá, hiện, vị lai,Muñca pure muñca pacchato,Let go of the past, let go of the future,

348.2Đến bờ kia cuộc đời,Majjhe muñca bhavassa pāragū;let go of the present, having gone beyond rebirth.

348.3Ý giải thoát tất cả,Sabbattha vimuttamānaso,With your heart freed in every respect,

348.4Chớ vướng tại sanh già.Na punaṁ jātijaraṁ upehisi.you’ll not come again to rebirth and old age.

Chuyện bậc hiền trí CūḷadhanuggahaCūḷadhanuggahapaṇḍitavatthu Đọc tích truyện ›

349.1Người tà ý nhiếp phục,Vitakkamathitassa jantuno,For a personage churned by thoughts,

349.2Tham sắc bén nhìn tịnh,Tibbarāgassa subhānupassino;very lustful, focusing on beauty,

349.3Người ấy ái tăng trưởng,Bhiyyo taṇhā pavaḍḍhati,their craving grows and grows,

349.4Làm giây trói mình chặt.Esa kho daḷhaṁ karoti bandhanaṁ.tying them with a stout bond.

350.1Ai vui, an tịnh ý,Vitakkūpasame ca yo rato,But one who loves to calm their thoughts,

350.2Quán bất tịnh, thường niệm,Asubhaṁ bhāvayate sadā sato;developing perception of ugliness, ever mindful,

350.3Người ấy sẽ diệt ái,Esa kho byanti kāhiti,will surely eliminate that craving,

350.4Cắt đứt Ma trói buộc.Esa checchati mārabandhanaṁ.cutting off the bonds of Māra.

Chuyện Ma vươngMāravatthu Đọc tích truyện ›

351.1Ai tới đích không sợ,Niṭṭhaṅgato asantāsī,One who is confident, unafraid,

351.2Ly ái, không nhiễm ôvītataṇho anaṅgaṇo;rid of craving, free of blemish,

351.3Nhổ mũi tên sanh tử,Acchindi bhavasallāni,having struck down the arrows flying to future lives,

351.4Thân này thân cuối cùng.antimoyaṁ samussayo.this bag of bones is their last.

352.1Ái lìa, không chấp thủVītataṇho anādāno,Rid of craving, free of grasping,

352.2Cú pháp khéo biện tàiNiruttipadakovido;expert in the definition of terms,

352.3Thấu suốt từ vô ngại,Akkharānaṁ sannipātaṁ,knowing the correct

352.4Hiểu thứ lớp trước sau.Jaññā pubbāparāni ca;structure and sequence of syllables,

352.5Thân này thân cuối cùngSa ve “antimasārīro,they are said to be one who bears their final body,

352.6Vị như vậy được gọi,
Bậc Đại trí, đại nhân.
Mahāpañño mahāpuriso”ti vuccati.one of great wisdom, a great person.

Chuyện du sĩ UpakaUpakājīvakavatthu Đọc tích truyện ›

353.1Ta hàng phục tất cả,Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi,I am the vanquisher of all, the knower of all,

353.2Ta rõ biết tất cả,Sabbesu dhammesu anūpalitto;unsullied in the midst of all things.

353.3Không bị nhiễm pháp nào.Sabbañjaho taṇhakkhaye vimutto,I’ve given up all, freed in the ending of craving.

353.4Ta từ bỏ tất cả
Ái diệt, tự giải thoát.
Đã tự mình thắng trí,
Ta gọi ai thầy ta?
Sayaṁ abhiññāya kamuddiseyyaṁ.Since I know for myself, whose follower should I be?

Chuyện câu hỏi của Thiên chủ Đế ThíchSakkapañhavatthu Đọc tích truyện ›

354.1Pháp thí, thắng mọi thí!Sabbadānaṁ dhammadānaṁ jināti,The gift of the teaching surmounts all other gifts;

354.2Pháp vị, thắng mọi vị!Sabbarasaṁ dhammaraso jināti;the taste of the teaching surmounts all other tastes;

354.3Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!Sabbaratiṁ dhammarati jināti,the joy of the teaching surmounts all other joys;

354.4Ái diệt, thắng mọi khổ!Taṇhakkhayo sabbadukkhaṁ jināti.the ending of craving surmounts all suffering.

Chuyện vị trưởng giả không conAputtakaseṭṭhivatthu Đọc tích truyện ›

355.1Tài sản hại người ngu.Hananti bhogā dummedhaṁ,Riches ruin a simpleton,

355.2Không người tìm bờ kiano ca pāragavesino;but not a seeker of the far shore.

355.3Kẻ ngu vì tham giàu,Bhogataṇhāya dummedho,From craving for wealth, a simpleton

355.4Hại mình và hại người.hanti aññeva attanaṁ.ruins themselves and others.

Chuyện thiên tử AṅkuraAṅkuravatthu Đọc tích truyện ›

356.1Cỏ làm hại ruộng vườn,Tiṇadosāni khettāni,Weeds are the bane of crops,

356.2Tham làm hại người đời.rāgadosā ayaṁ pajā;but greed is these folk’s bane.

356.3Bố thí người ly tham,Tasmā hi vītarāgesu,That’s why a gift to one rid of greed

356.4Do vậy được quả lớn.dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.is so very fruitful.

357.1Cỏ làm hại ruộng vườn,Tiṇadosāni khettāni,Weeds are the bane of crops,

357.2Sân làm hại người đời.dosadosā ayaṁ pajā;but hate is these folk’s bane.

357.3Bố thí người ly sân,Tasmā hi vītadosesu,That’s why a gift to one rid of hate

357.4Do vậy được quả lớn.dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.is so very fruitful.

358.1Cỏ làm hại ruộng vườn,Tiṇadosāni khettāni,Weeds are the bane of crops,

358.2Si làm hại người đời,mohadosā ayaṁ pajā;but delusion is these folk’s bane.

358.3Bố thí người ly si,Tasmā hi vītamohesu,That’s why a gift to one rid of delusion

358.4Do vậy được quả lớn.dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.is so very fruitful.

359.1Cỏ làm hại ruộng vườn,Tiṇadosāni khettāni,Weeds are the bane of crops,

359.2Dục làm hại người đời.icchādosā ayaṁ pajā;but desire is these folk’s bane.

359.3Bố thí người ly dục,Tasmā hi vigaticchesu,That’s why a gift to one rid of desire

359.4Do vậy được quả lớn.dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.is so very fruitful.

359.5Taṇhāvaggo catuvīsatimo.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Pháp Cú, kệ 334–359 (Dhammapada, Taṇhāvagga). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Dhp 334–359 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản số hoá trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp