Phật Thuyết Như Vậy 27 · Iti 27

Kinh Tu Tập Tâm Từ

Mettābhāvanā Sutta

Kinh Tu Tập Tâm Từ nói rằng từ tâm giải thoát vượt qua mọi phước nghiệp đưa đến sanh y, chói sáng, bừng sáng và rực sáng như ánh trăng vượt ánh sao.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Mọi phước nghiệp đưa đến sanh y đều không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát.
  • Người tu tập từ tâm với chánh niệm không phóng dật thì các kiết sử giảm thiểu nhờ thấy sanh y diệt.
  • Người không giết hại, không khiến người giết hại, không chinh phục người, với tâm từ đối với mọi chúng sanh thì không có hận thù với bất cứ ai.

Kinh Tu Tập Tâm Từ thuộc Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh mở đầu bằng lời kể lại điều Thế Tôn đã nói, rồi dùng nhiều ví dụ về ánh sáng để nói sức vượt trội của từ tâm giải thoát, và kết bằng bài kệ nói về người tu tập tâm từ và người khéo tu tập tâm ý từ mẫn.

Cấu trúc của kinh đi từ văn xuôi sang kệ. Phần văn xuôi ở đoạn 1.1 đến 5.4 nêu ý chính rồi lặp lại ý ấy qua các ví dụ về ánh sao, mặt trời mùa thu và sao mai. Phần kệ ở đoạn 6.1 đến 10.4 nói về người tu tập từ tâm, về bậc Thánh tạo công đức vô lượng bằng tâm từ đối với tất cả hữu tình, và về người không giết hại mà sống với tâm từ đối với mọi chúng sanh.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh không hạ thấp việc làm phước mà đặt tâm từ lên trên, vì tâm từ chạm đến gốc rễ của sự trói buộc thay vì chỉ đổi lấy một quả lành riêng lẻ.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
mettā
tâm từ
cetovimutti
tâm giải thoát
puññakiriyavatthu
phước nghiệp sự
opadhika
đưa đến sanh y
saṁyojana
kiết sử, sự trói buộc
appamāṇa
không giới hạn, vô lượng
bhikkhu
Tỷ-kheo, vị xuất gia theo Phật
kusala
bậc Thiện, người khéo léo trong điều thiện
ariya
bậc Thánh
pāṇa
hữu tình, chúng sanh có hơi thở

Kinh Tu Tập Tâm Từ

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, phàm có những phước nghiệp sự nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp sự ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng những nghiệp sự ấy, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, ví như ánh sáng của chùm sao, tất cả ánh sáng ấy không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng của mặt trăng vượt quả ánh sáng của chùm sao chói sáng, bừng sáng, và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát, vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, ví như vào tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, trên bầu trời thanh tịnh, các mây được quét sạch, mặt trời mọc lên trên bầu trời, phá tan mọi tối tăm ở hư không, chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát, vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Ví như này các Tỷ-kheo, vào tháng cuối mùa mưa, vào tiết mùa thu, khi hư không mở rộng không có mây mù, mặt trời vươn thẳng lên trời không, quét sạch mọi tối tăm trên trời, chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Ví như này các Tỷ-kheo, khi đêm đã gần tàn, sao mai chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Yāni kānici, bhikkhave, opadhikāni puññakiriyavatthūni sabbāni tāni mettāya cetovimuttiyā kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ. Mettāyeva tāni cetovimutti adhiggahetvā bhāsate ca tapate ca virocati ca. Seyyathāpi, bhikkhave, yā kāci tārakarūpānaṁ pabhā sabbā tā candiyā pabhāya kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ, candapabhāyeva tā adhiggahetvā bhāsate ca tapate ca virocati ca; evamevaṁ kho, bhikkhave, yāni kānici opadhikāni puññakiriyavatthūni sabbāni tāni mettāya cetovimuttiyā kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ, mettāyeva tāni cetovimutti adhiggahetvā bhāsate ca tapate ca virocati ca. Seyyathāpi, bhikkhave, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve ādicco nabhaṁ abbhussakkamāno sabbaṁ ākāsagataṁ tamagataṁ abhivihacca bhāsate ca tapate ca virocati ca; evamevaṁ kho, bhikkhave, yāni kānici opadhikāni puññakiriyavatthūni sabbāni tāni mettāya cetovimuttiyā kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ, mettāyeva tāni cetovimutti adhiggahetvā bhāsate ca tapate ca virocati ca. Seyyathāpi, bhikkhave, rattiyā paccūsasamayaṁ osadhitārakā bhāsate ca tapate ca virocati ca; evamevaṁ kho, bhikkhave, yāni kānici opadhikāni puññakiriyavatthūni sabbāni tāni mettāya cetovimuttiyā kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ, mettāyeva tāni cetovimutti adhiggahetvā bhāsate ca tapate ca virocati cā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, of all the grounds for making worldly merit, none are worth a sixteenth part of the heart’s release by love. Surpassing them, the heart’s release by love shines and glows and dazzles. It’s like how the radiance of all the stars is not worth a sixteenth part of the moon’s radiance. Surpassing them, the moon’s radiance shines and glows and dazzles. In the same way, of all the grounds for making worldly merit, none are worth a sixteenth part of the heart’s release by love. Surpassing them, the heart’s release by love shines and glows and dazzles. It’s like the last month of the rainy season, in autumn, when the heavens are sunny and cloudless. And as the sun is rising to the firmament, having dispelled all the darkness of space, it shines and glows and dazzles. In the same way, of all the grounds for making worldly merit, none are worth a sixteenth part of the heart’s release by love. Surpassing them, the heart’s release by love shines and glows and dazzles. It’s like how, at the crack of dawn, the morning star shines and glows and dazzles. In the same way, of all the grounds for making worldly merit, none are worth a sixteenth part of the heart’s release by love. Surpassing them, the heart’s release by love shines and glows and dazzles.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Ai tu tập từ tâm,
Không phóng dật chánh niệm,
Các kiết sử giảm thiểu,
Nhờ thấy sanh y diệt.
Nếu tâm không độc ác,
Đối với một hữu tình,
Với từ tâm như vậy,
Vị ấy là bậc Thiện,
Với tâm tư từ mẫn,
Đối tất cả hữu tình,
Bậc Thánh tự tác thành,
Công đức thật vô lượng.
Ai chiến thắng quả đất,
Đầy dẫy những hữu tình,
Bậc vua chúa chơn chánh,
Như các vị tiên nhân,
Tổ chức khắp mọi nơi,
Đủ các loại tế đàn,
Lễ tế đàn với ngựa,
Lễ tế đàn với người,
Quăng cọc, rượu chiến thắng,
Lễ chốt cửa dẹp lại,
Họ không tác thành được
Một phần thứ mười sáu,
Với người khéo tu tập,
Tâm ý thật từ mẫn,
Như ánh sáng mặt trăng,
Thắng sáng mọi vì sao,
Ai không có giết hại,
Không khiến người giết hại,
Không có chinh phục người,
Không khiến người chinh phục,
Với tâm tư từ mẫn,
Đối với mọi chúng sanh,
Vị ấy không hận thù,
Đối với bất cứ ai.
“Yo ca mettaṁ bhāvayati,
appamāṇaṁ paṭissato;
Tanū saṁyojanā honti,
passato upadhikkhayaṁ.
Ekampi ce pāṇamaduṭṭhacitto,
Mettāyati kusalo tena hoti;
Sabbe ca pāṇe manasānukampaṁ,
Pahūtamariyo pakaroti puññaṁ.
Ye sattasaṇḍaṁ pathaviṁ vijitvā,
Rājisayo yajamānānupariyagā;
Assamedhaṁ purisamedhaṁ,
Sammāpāsaṁ vājapeyyaṁ niraggaḷaṁ.
Mettassa cittassa subhāvitassa,
Kalampi te nānubhavanti soḷasiṁ;
Candappabhā tāragaṇāva sabbe.
Yo na hanti na ghāteti,
na jināti na jāpaye;
Mettaṁso sabbabhūtesu,
veraṁ tassa na kenacī”ti.
“A mindful one who develops limitless love weakens the fetters, seeing the ending of attachments. Loving just one creature with a hateless heart makes you a good person. Sympathetic for all creatures, a noble one creates abundant merit. The royal potentates conquered this land and traveled around sponsoring sacrifices— horse sacrifice, human sacrifice, the sacrifices of the ‘casting of the yoke-pin’, <j>the ‘royal soma drinking’, and the ‘unimpeded’. These are not worth a sixteenth part of the mind developed with love, as starlight cannot rival the moon. Don’t kill or cause others to kill, don’t conquer or encourage others to conquer, with love for all living creatures— you’ll have no enmity for anyone.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.

#### C2
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Sattamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh đặt từ tâm giải thoát lên trên mọi phước nghiệp đưa đến sanh y, và dùng hình ảnh một phần mười sáu để nói sự chênh lệch. Ánh sáng của chùm sao, ánh sáng mặt trời mùa thu trên bầu trời thanh tịnh và ánh sáng sao mai khi đêm gần tàn đều là những hình ảnh cho sự chói sáng, nhưng kinh nói tất cả vẫn không bằng từ tâm giải thoát.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, từ tâm ở đây không phải là một cảm xúc thoáng qua mà là một trạng thái tâm được tu tập cho đến khi trở thành chỗ giải thoát, tức tâm không còn bị trói buộc bởi hận thù và sự chiếm hữu.

Bài kệ nói người tu tập từ tâm với chánh niệm không phóng dật thì các kiết sử giảm thiểu nhờ thấy sanh y diệt. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thấy sanh y diệt có nghĩa là thấy rõ những gì tạo ra sự tiếp tục của khổ, và khi thấy rõ thì sự trói buộc không còn chỗ bám chắc như trước.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh (không phải lời kinh): chú Khải vốn hay cãi lại hàng xóm vì tiếng ồn buổi trưa, sau một thời gian tập giữ tâm hiền lành trước khi mở lời thì những lần va chạm thưa dần, và chú thấy nhà chú yên hơn dù tiếng ồn vẫn còn đó.

Bài kệ cũng nhắc rằng dù một vị vua chúa tổ chức đủ các loại tế đàn thì vẫn không tạo được một phần mười sáu so với người khéo tu tập tâm ý từ mẫn. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điều này nhắc người đọc đừng đo lường việc tu tập bằng quy mô bên ngoài mà hãy nhìn vào phẩm chất của tâm.

Từ tâm giải thoát vượt mọi phước nghiệp đưa đến sanh y và soi sáng như ánh trăng vượt ánh sao.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 27 (Mettābhāvanā Sutta, Itivuttaka 27). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 27 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp