Phật Thuyết Như Vậy 68 · Iti 68

Kinh Tham Ái Thứ Nhất

Paṭhamarāga Sutta

Kinh Tham Ái Thứ Nhất đối chiếu hai trạng thái: người còn tham, sân, si thì bị trói buộc, còn người đã đoạn tận ba pháp ấy thì thoát khỏi bẫy lưới của Ác ma.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người còn tham, sân, si được kinh gọi là người bị trói buộc với Ác ma.
  • Người đã đoạn tận tham, sân, si được kinh gọi là người không còn trói buộc.
  • Người đoạn tận ấy được kinh ca ngợi là người đã vượt qua hận thù và sợ hãi.

Kinh Tham Ái Thứ Nhất thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 68. Bài kinh mở đầu bằng lời thuật lại rằng Đức Phật đã dạy về hai trạng thái đối lập, tiếp theo là phần kệ ca ngợi người đã đoạn tận, rồi kết bằng lời xác nhận ý nghĩa vừa được nói. Cách sắp xếp này giúp bạn thấy rõ sự đối chiếu: phần xuôi đặt hai trạng thái cạnh nhau, phần kệ nêu phẩm chất của người đã vượt qua.

Ba pháp được nhắc trong bài kinh là rāgo, tham, doso, sân, và moho, si. Trong phần kệ, kinh nhắc tham, sân và vô minh (avijjā). Người còn ba pháp ấy bị ví như người mắc trong chữ mārapāso, bẫy lưới của Ác ma. Người đã đoạn tận ba pháp ấy được gọi bằng chữ sabbappahāyinan, người đã từ bỏ tất cả.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
rāgo
tham
doso
sân
moho
si
avijjā
vô minh
mārapāso
bẫy lưới của Ác ma
sabbappahāyinan
người đã từ bỏ tất cả

Kinh Tham Ái Thứ Nhất

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, với ai tham chưa đoạn tận, sân chưa đoạn tận, si chưa đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là người bị trói buộc với Ác ma, bị bẫy lưới của Ác ma bao trùm, bị làm theo ý Ác ma muốn. Này các Tỷ-kheo, với ai tham đã đoạn tận, sân đã đoạn tận, si đã đoạn tận, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là người không trói buộc với Ác ma, được thoát khỏi bẫy lưới của Ác ma, không bị làm theo Ác ma muốn.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Yassa kassaci, bhikkhave, rāgo appahīno, doso appahīno, moho appahīno— ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘baddho mārassa paṭimukkassa mārapāso yathākāmakaraṇīyo pāpimato’. Yassa kassaci, bhikkhave, rāgo pahīno, doso pahīno, moho pahīno— ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘abaddho mārassa omukkassa mārapāso na yathākāmakaraṇīyo pāpimato’”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Whoever has not given up greed, hate, and delusion is said to be trapped. They’re caught in Māra’s snare, and the Wicked One can do with them what he wants. Whoever has given up greed, hate, and delusion is said to be free. They’re released from Māra’s snare, and the Wicked One cannot do with them what he wants.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Với ai đã từ bỏ
Tham, sân và vô minh,
Vị ấy được gọi là
Đã tu tập tự ngã,
Đã trở thành Phạm Thiên
Bậc Như Lai, Phật-đà,
Bậc đã vượt qua được,
Hận thù và sợ hãi,
Bậc đoạn tận tất cả,
Được gọi danh như vậy.
“Yassa rāgo ca doso ca,
avijjā ca virājitā;
Taṁ bhāvitattaññataraṁ,
brahmabhūtaṁ tathāgataṁ;
Buddhaṁ verabhayātītaṁ,
āhu sabbappahāyinan”ti.
“Those in whom greed, hate, and ignorance have faded away, belong with those who are evolved; A manifestation of divinity, realized, awakened, beyond enmities and fears, they’ve given up everything, they say.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Navamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điểm đáng chú ý của bài kinh là sự đối chiếu thẳng thắn, không có trạng thái lưng chừng; người còn tham thì còn muốn nắm giữ, người còn sân thì còn phản ứng gay gắt trước điều trái ý, người còn si thì còn nhìn sự việc không đúng như thật. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, ba pháp ấy không đứng riêng lẻ mà thường kéo nhau cùng xuất hiện trong một việc làm.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan đi chợ và thấy một món đồ đang giảm giá mà chị vốn không cần. Chị dừng lại, tự hỏi món đồ có thật sự cần cho nhà chị hay không, rồi quyết định không mua và đi tiếp việc của chị. Cách ứng xử ấy chỉ là một hình ảnh đời thường giúp bạn hình dung tham được nhận ra kịp lúc, theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh.

Kinh nói người đã đoạn tận tham, sân, si thì không còn bị làm theo ý Ác ma muốn. Người viết hiểu hình ảnh bẫy lưới ở đây là sự chi phối kín đáo của tham, sân, si đối với lựa chọn hằng ngày. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, khi ba pháp ấy không còn chi phối thì người tu học giữ được quyền tự quyết trước những lời mời gọi và những cơn bực dọc.

Phần kệ còn ca ngợi người đoạn tận là người đã tu tập tự ngã, đã trở thành Phạm Thiên, là bậc Như Lai, bậc Phật đà, bậc đã vượt qua hận thù và sợ hãi. Người viết không đọc những danh xưng này như lời khen dành cho riêng một cá nhân. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, những danh xưng ấy nêu phẩm chất của đời sống đã đoạn tận, một đời sống không còn bị hận thù và sợ hãi dẫn dắt.

Khi tham, sân, si đã đoạn tận, người tu học không còn bị trói buộc và sống vượt qua hận thù cùng sợ hãi.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 68 (Paṭhamarāga Sutta, Itivuttaka 68). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 68 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp