Kinh Tham Ái Thứ Hai
Dutiyarāga Sutta
Kinh Tham Ái Thứ Hai ví đời tu như việc vượt biển: người còn tham, sân, si thì chưa qua được biển, còn người đã đoạn tận thì đã sang bờ bên kia.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Người còn tham, sân, si được kinh gọi là người chưa vượt qua đại dương đầy hiểm nguy.
- Người đã đoạn tận tham, sân, si được kinh gọi là người đã vượt qua và đứng trên đất liền.
- Người vượt qua ấy đã từ bỏ đau khổ và không còn tái sanh theo cách kinh nêu.
Kinh Tham Ái Thứ Hai thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 69. Bài kinh mở đầu bằng lời thuật lại rằng Đức Phật đã dạy về hai trạng thái đối lập, tiếp theo là phần kệ dài hơn nói lại về người đã vượt qua, rồi kết bằng lời xác nhận ý nghĩa vừa được nói. Cách sắp xếp này giúp bạn thấy rõ hình ảnh trung tâm của bài kinh, vì phần xuôi nêu hình ảnh biển và phần kệ triển khai hình ảnh ấy thêm một lần nữa.
Ba pháp được nhắc trong phần văn xuôi của bài kinh là rāgo, tham, doso, sân, và moho, si; phần kệ nhắc avijjā, vô minh. Biển trong bài kinh được gọi bằng chữ samuddaṁ, đại dương, với sóng biển, sóng ngầm, nước xoáy, cá mập và các loài la sát. Người đã sang bờ bên kia được gọi bằng chữ brāhmaṇo, vị Bà-la-môn đã đứng trên đất liền.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- rāgo
- tham
- doso
- sân
- moho
- si
- avijjā
- vô minh
- samuddaṁ
- đại dương
- brāhmaṇo
- vị Bà-la-môn
Kinh Tham Ái Thứ Hai
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này các Tỷ-kheo, tham chưa đoạn tận, sân chưa đoạn tận, si chưa đoạn tận; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị chưa vượt qua đại dương, với sóng biển, với sóng ngầm, với nước xoáy, với cá mập, với các loài La-sát. Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào, tham đã đoạn tận, sân đã đoạn tận, si đã đoạn tận; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là: “Đã vượt qua đại dương, với sóng biển, với sóng ngầm, với nước xoáy, với cá mập, với các loài la-sát, đã vượt qua bờ kia, là vị Bà-la-môn đã đứng trên đất liền.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā rāgo appahīno, doso appahīno, moho appahīno— ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘atiṇṇo samuddaṁ saūmiṁ savīciṁ sāvaṭṭaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ’. Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā rāgo pahīno, doso pahīno, moho pahīno— ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘atari samuddaṁ saūmiṁ savīciṁ sāvaṭṭaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ, tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo’”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Whoever has not given up greed, hate, and delusion is said to have not crossed over the ocean with its waves and whirlpools, its saltwater crocodiles and monsters. Whoever has given up greed, hate, and delusion is said to have crossed over the ocean with its waves and whirlpools, its saltwater crocodiles and monsters. Crossed over and gone to the far shore, that brahmin stands on solid ground.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Với ai đã từ bỏ
Tham, sanh và vô minh,
Vị ấy được gọi là
Đã vượt qua biển này,
Với cá mập, Dạ-xoa,
Với sóng biển hãi hùng,
Rất khó được vượt qua,
Là vị vượt ác triền,
Đã từ bỏ thần chết,
Không còn có sanh y,
Đã từ bỏ đau khổ,
Không còn có tái sanh,
Đã đi đến mục đích,
Không thể ước lượng được,
Ta nói rằng vị ấy
Làm ma vương si ám.“Yassa rāgo ca doso ca,
Avijjā ca virājitā;
Somaṁ samuddaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ,
Saūmibhayaṁ duttaraṁ accatāri.
Saṅgātigo maccujaho nirūpadhi,
Pahāsi dukkhaṁ apunabbhavāya;
Atthaṅgato so na pamāṇameti,
Amohayi maccurājanti brūmī”ti.“Those in whom greed, hate, and ignorance have faded away, have crossed the ocean so hard to cross, with its saltwater crocodiles and monsters, <j>its waves and dangers. They’ve slipped their chains, given up death, and have no attachments. They’ve given up suffering, <j>so there are no more future lives. They’ve disappeared and cannot be defined; they’ve confounded the King of Death, I say.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dasamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh biển trong bài kinh giúp bạn hình dung vì sao tham, sân, si không phải là những cơn cảm xúc thoáng qua; sóng biển, sóng ngầm và nước xoáy gợi lên những lực kéo âm thầm mà người tu học khó nhận ra khi đang ở giữa dòng. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điều nguy hiểm không chỉ nằm ở một cơn sóng lớn mà còn ở dòng chảy kéo người tu học đi xa dần khỏi bờ.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải nhận được một tin nhắn khiến chú khó chịu vào buổi tối. Chú không trả lời ngay, chú để điện thoại xuống, làm xong việc đang dở, rồi sáng hôm sau mới trả lời ngắn gọn và đúng việc. Cách ứng xử ấy chỉ là một hình ảnh đời thường giúp bạn hình dung sân được nhận ra kịp lúc, theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh.
Kinh nói người đã đoạn tận tham, sân, si thì đã vượt qua biển, đã vượt qua bờ kia và đứng trên đất liền. Người viết hiểu bờ bên kia ở đây là trạng thái không còn bị tham, sân, si cuốn đi. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, đứng trên đất liền có nghĩa là giữ được chỗ đứng vững vàng trước những điều mời gọi và những điều trái ý, chứ không phải rời bỏ đời sống thường ngày.
Phần kệ còn nói người vượt qua ấy đã vượt ác triền, đã từ bỏ thần chết, không còn sanh y, đã từ bỏ đau khổ và không còn tái sanh, đã đi đến mục đích và khiến ma vương si ám. Người viết không đọc những lời này như lời hứa về một kết quả nhanh chóng. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, những lời này nêu đích đến của đời sống đã đoạn tận, một đời sống mà tham, sân, si không còn quyền chi phối.
Khi tham, sân, si đã đoạn tận, người tu học vượt qua biển hiểm nguy và đứng vững trên bờ bên kia.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 69 (Dutiyarāga Sutta, Itivuttaka 69). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 69 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.