Phật Thuyết Như Vậy 22 · Iti 22

Kinh Tâm Từ

Metta Sutta

Kinh Tâm Từ khuyên chớ sợ hãi các công đức, vì công đức đồng nghĩa với an lạc. Kinh dạy tu tập bố thí, sống nếp sống an tịnh và tu tập từ tâm để an lạc sanh khởi.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Chớ sợ hãi các công đức, vì công đức là đồng nghĩa với an lạc, với điều khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý.
  • Đức Phật đã thắng tri và thọ hưởng quả dị thục (dị thục là quả chín ra từ việc đã làm) khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý của các công đức đã làm trong thời gian dài. Riêng về từ tâm, sau bảy năm tu tập từ tâm, Đức Phật không trở lại đời này trong bảy kiếp.
  • Hãy tu tập bố thí, sống nếp sống an tịnh và tu tập từ tâm, để an lạc sanh khởi và bậc hiền trí được sanh trong thế giới an lạc, không sân hận.

Kinh Tâm Từ thuộc Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh mở đầu bằng lời khuyên chớ sợ hãi các công đức, rồi nêu lại quả dị thục mà Đức Phật đã thắng tri sau thời gian dài làm các công đức, và nói riêng về bảy năm tu tập từ tâm. Kinh kết bằng bài kệ dạy tu tập các pháp đưa đến an lạc. Văn xuôi nêu các pháp là bố thí, nhiếp phục, chế ngự, bài kệ nêu các pháp là bố thí, sống an tịnh và từ tâm. Kinh nói với các Tỷ-kheo, tức những vị xuất gia theo Phật, và lời dạy soi sáng việc làm công đức trong đời sống hằng ngày.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
puñña
công đức
mettacitta
tâm từ
dāna
bố thí
dama
nhiếp phục
saññama
chế ngự
sukha
an lạc
samacariya
sống an tịnh
abyāpajja
không sân hận
paṇḍita
bậc hiền trí
bhikkhave
này các Tỷ-kheo
dị thục
quả chín ra từ việc đã làm
thắng tri
biết rõ bằng trí tuệ
khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý
đáng ưa, đáng vui, đáng yêu, đáng vừa ý

Kinh Tâm Từ

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, chớ có sợ hãi các công đức. Này các Tỷ-kheo, công đức là đồng nghĩa với an lạc, cái gì khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý, tức là công đức. Này các Tỷ-kheo, Ta thắng tri thọ hưởng quả dị thục, khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý trong một thời gian dài của các công đức đã làm trong một thời gian dài. Sau khi tu tập từ tâm trong bảy năm, Ta đã không trở lui lại đời này trong bảy tăng kiếp và hoại kiếp. Trong thời kỳ kiếp tăng, Ta là chư Thiên Quang Âm; Trong thời kỳ kiếp giảm, Ta sanh trong lâu đài trống không ở Phạm Thiên. Tại đấy Ta là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên bậc chinh phục, bậc không bị ai chinh phục, bậc nhìn thấy tất cả, bậc có quyền lực. Này các Tỷ-kheo, ba mươi sáu lần Ta đã là Thiên chủ Đế Thích. Nhiều trăm lần, Ta đã làm vua, vị vua Chuyển Luân, trị vì đúng pháp, bậc Pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, bậc đã đạt được sự an ổn trong quốc độ, bậc đầy đủ bảy báu. Còn nói gì khi Ta là vị vua ở địa phương. Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Quả này là do nghiệp nào Ta đã làm, là quả dị thục của nghiệp nào mà nay, Ta được đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy?”. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Đây là quả ba nghiệp Ta đã làm, là quả dị thục của ba nghiệp, do vậy Ta nay đựơc đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy. Tức là bố thí, nhiếp phục, chế ngự”.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Mā, bhikkhave, puññānaṁ bhāyittha. Sukhassetaṁ, bhikkhave, adhivacanaṁ iṭṭhassa kantassa piyassa manāpassa yadidaṁ puññāni. Abhijānāmi kho panāhaṁ, bhikkhave, dīgharattaṁ katānaṁ puññānaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ piyaṁ manāpaṁ vipākaṁ paccanubhūtaṁ. Satta vassāni mettacittaṁ bhāvetvā satta saṁvaṭṭavivaṭṭakappe nayimaṁ lokaṁ punarāgamāsiṁ. Saṁvaṭṭamāne sudaṁ, bhikkhave, kappe ābhassarūpago homi; vivaṭṭamāne kappe suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjāmi. Tatra sudaṁ, bhikkhave, brahmā homi mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī. Chattiṁsakkhattuṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, sakko ahosiṁ devānamindo; anekasatakkhattuṁ rājā ahosiṁ cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Ko pana vādo padesarajjassa. Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘kissa nu kho me idaṁ kammassa phalaṁ, kissa kammassa vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo’ti? Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘tiṇṇaṁ kho me idaṁ kammānaṁ phalaṁ, tiṇṇaṁ kammānaṁ vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvoti, seyyathidaṁ— dānassa, damassa, saññamassā’”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, don’t fear good deeds. For ‘good deeds’ is a term for happiness, for what is likable, desirable, and agreeable. I recall undergoing for a long time the likable, desirable, and agreeable results of good deeds performed over a long time. Having developed a mind of love for seven years, for seven eons of the cosmos contracting and expanding I didn’t return to this world again. As the eon contracted I went to the realm of sublime luminosity. As it expanded I was reborn in an empty mansion of divinity. There I was the Divinity, the Great Divinity, the vanquisher, the unvanquished, the universal seer, the wielder of power. I was Sakka, lord of gods, thirty-six times. Many hundreds of times I was a king, a wheel-turning monarch, a just and principled king. My dominion extended to all four sides, I achieved stability in the country, and I possessed the seven treasures. Not to mention regional kingship! Then I thought, ‘Of what deed of mine is this the fruit and result, that I am now so mighty and powerful?’ Then I thought, ‘It is the fruit and result of three kinds of deeds: giving, self-control, and restraint.’” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Hãy để cho vị ấy,
Học tập về công đức,
Công đức là lạc căn,
Tối thượng trong tương lai,
Hãy tu tập bố thí,
Sống nếp sống an tịnh,
Và tu tập từ tâm.
Sau khi đã tu tập,
Các pháp này như vậy,
Tức là cả ba pháp,
Khiến an lạc sanh khởi,
Bậc Hiền trí được sanh
Trong thế giới an lạc,
Thế giới không sân hận.
“Puññameva so sikkheyya,
āyataggaṁ sukhudrayaṁ;
Dānañca samacariyañca,
mettacittañca bhāvaye.
Ete dhamme bhāvayitvā,
tayo sukhasamuddaye;
Abyāpajjaṁ sukhaṁ lokaṁ,
paṇḍito upapajjatī”ti.
“One should practice only good deeds, whose happy outcome stretches ahead. Giving and moral conduct, developing a mind of love: having developed these three things yielding happiness, that astute one is reborn in a happy, pleasing world.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dutiyaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh khuyên chớ sợ hãi các công đức, vì công đức là đồng nghĩa với an lạc, với điều khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý. Kinh còn nêu quả dị thục mà Đức Phật đã thắng tri sau thời gian dài làm các công đức. Kinh cũng nói riêng về bảy năm tu tập từ tâm.

Từ chỗ kinh nêu các pháp là bố thí, nhiếp phục, chế ngự trong văn xuôi và bố thí, sống an tịnh, từ tâm trong bài kệ, theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, an lạc không đến từ một việc riêng lẻ mà từ nếp sống gồm các pháp ấy.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người mỗi tuần dành một buổi phụ giúp hàng xóm lớn tuổi, giữ lời nói ôn hòa trong nhà, và tập nghĩ tốt về người khác trước khi phán xét, rồi thấy nhà người ấy yên ổn hơn (không phải lời kinh).

Bài kệ cuối kinh dạy hãy tu tập bố thí, sống nếp sống an tịnh và tu tập từ tâm, để bậc hiền trí được sanh trong thế giới an lạc, thế giới không sân hận. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thế giới không sân hận ở đây là kết quả của nếp sống ấy, không phải nơi chốn tìm đến bằng ước muốn.

Hãy tu tập bố thí, sống an tịnh và tu tập từ tâm, để an lạc sanh khởi.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 22 (Metta Sutta, Itivuttaka 22). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 22 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp