Kinh Tập 1.5 · Snp 1.5

Kinh Thuần-đà

Cunda Sutta

Còn gọi là: Kinh Cunda, Kinh Tập 1.5

Thấy một người mặc áo tu làm điều sai, ta có nên mất niềm tin vào cả Tăng chúng không? Ông Thuần-đà hỏi Đức Phật, và được nghe về bốn hạng Sa-môn.

Trước khi đọc kinh

Kinh Thuần-đà (Cunda Sutta) là bài kinh thứ năm trong phẩm Rắn (Uragavagga) của Kinh Tập. Ông Thuần-đà (Cunda), con nhà thợ, hỏi Đức Phật: ở đời có bao nhiêu hạng Sa-môn (kệ 1.1–1.5)? Đức Phật đáp: có bốn hạng, không có hạng thứ năm: người chiến thắng nhờ đạo, người chỉ dạy đạo, người sống trong đạo, và người làm nhơ đạo (kệ 2.1–2.5). Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), chuyện xảy ra ở Ba-bà (Pāvā), trong vườn xoài của ông Thuần-đà, như Kinh Đại Bát-niết-bàn (DN 16) kể lại. Ông dâng cơm chư Tăng và mời các vị dùng bát vàng; khi ấy giới cấm chưa được chế ra, nên có vị nhận, có vị không. Một vị Tỷ-kheo xấu lén bỏ chiếc bát vàng vào túi mình. Ông Thuần-đà thấy, nhưng làm như không thấy, không nói gì, vì kính Đức Phật và các bậc trưởng lão, và cũng để những người tà kiến không có cớ dị nghị. Chiều hôm ấy, ông đến hỏi Đức Phật câu hỏi này. Kinh Thuần-đà (AN 10.176) cũng diễn ra tại vườn xoài của ông Thuần-đà con nhà thợ ở Ba-bà.

Bốn bài kệ tiếp theo tả bốn hạng người (kệ 4–7), và chú giải nói rõ mỗi hạng là ai. Người chiến thắng nhờ đạo đã vượt qua nghi ngờ, nhổ sạch mũi tên, vui trong Niết-bàn, dẫn đường cho thế gian cùng chư thiên: đó là Đức Phật. Người chỉ dạy đạo biết điều tối thượng là tối thượng, nói ra và phân tích Pháp, đã đoạn nghi, không còn dao động: đó là các vị A-la-hán. Người sống trong đạo nương vào lời Pháp khéo giảng, biết tự chế, có chánh niệm: đó là các bậc Thánh hữu học và cả những người tu chưa chứng Thánh mà giữ giới trong sạch. Còn người làm nhơ đạo thì khoác bên ngoài dáng vẻ người giữ hạnh tốt, len lỏi vào Tăng chúng, xấc xược, làm hỏng niềm tin của các gia đình, dối trá, không tự chế, rỗng như vỏ trấu. Chú giải giải hình ảnh vỏ trấu: bên ngoài trông như hạt lúa, bên trong không có gạo. Bài kệ cuối là ý chính: người tại gia có trí biết rằng “không phải ai cũng như kẻ ấy”, nên dù thấy vậy, niềm tin không suy giảm; làm sao có thể đặt người trong sạch ngang hàng với kẻ không trong sạch (kệ 8.1–8.6)?

Hiểu đúng: bài kinh không bảo người Phật tử nhắm mắt làm ngơ trước cái sai, cũng không bảo phải bênh vực mọi người mặc áo tu. Đức Phật gọi thẳng tên hạng thứ tư là “người làm nhơ đạo”. Điều kinh dạy là đừng lấy một người để phán xét tất cả. Ngày nay, mỗi khi có tin một vị tu sĩ làm điều sai, dễ có người kết luận “tu hành bây giờ ai cũng vậy”. Đó chính là cái nhìn mà bài kinh muốn sửa. Chú giải ghi rằng cuối bài, ông Thuần-đà không được nói là chứng quả nào, chỉ có mối nghi của ông được dứt. Lần tới khi nghe một tin buồn như vậy, bạn có thể nhớ lại bốn hạng Sa-môn, và nhớ đến những vị thầy giữ giới trong sạch mà mình đã gặp.

Ý chính

  • Có bốn hạng Sa-môn, không có hạng thứ năm (2.1).
  • Người chiến thắng nhờ đạo: đã vượt nghi, nhổ mũi tên, vui trong Niết-bàn, dẫn đường cho thế gian (4.1–4.4).
  • Người chỉ dạy đạo: biết điều tối thượng là tối thượng, nói và phân tích Pháp (5.1–5.4).
  • Người sống trong đạo: biết tự chế, có chánh niệm, thực hành những pháp không lỗi lầm (6.1–6.4).
  • Người làm nhơ đạo: khoác dáng vẻ người tu, xấc xược, dối trá, rỗng như vỏ trấu (7.1–7.4).
  • Thánh đệ tử biết “không phải ai cũng như kẻ ấy”, nên niềm tin không suy giảm (8.3–8.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
samaṇa
Sa-môn, người tu
maggajina
người chiến thắng nhờ đạo; theo chú giải là Đức Phật
maggadesaka
người chỉ dạy đạo; theo chú giải là bậc A-la-hán
maggajīvī
người sống trong đạo; theo chú giải là bậc hữu học và người tu giữ giới
maggadūsī
người làm nhơ đạo, kẻ phá giới khoác áo tu
kuladūsaka
người làm hỏng niềm tin của các gia đình
palāpa
vỏ trấu; theo chú giải là bên ngoài như hạt lúa, bên trong không có gạo
ariyasāvaka
Thánh đệ tử

Kinh Thuần-đà

1Người thợ rèn Cunda,
Nói lên lời như sau:
Con hỏi bậc Đại sĩ,
Bậc trí tuệ rộng lớn,
Đấng Giác ngộ, Pháp chủ,
Đã đoạn tận khát ái,
Bậc tối thượng hai chân,
Bậc đánh xe tối thắng,
Xin Ngài nói ở đời,
Có bao nhiêu Sa-môn?
“Pucchāmi muniṁ pahūtapaññaṁ, (iti cundo kammāraputto) Buddhaṁ dhammassāmiṁ vītataṇhaṁ; Dvipaduttamaṁ sārathīnaṁ pavaraṁ, Kati loke samaṇā tadiṅgha brūhi”.“I ask the sage abounding in wisdom,” said Cunda the smith, “the Buddha, master of the teaching, free of craving, best of men, excellent charioteer, please tell me this: how many ascetics are there in the world?”

2Thế Tôn:

Chỉ có bốn Sa-môn,
Không có hạng thứ năm,
Thế Tôn đáp Cunda,
Này Cunda, là vậy.
Ta tỏ bày cho Ông,
Được hỏi điều tự thấy,
Bậc chiến thắng con đường,
Bậc thuyết giảng con đường,
Bậc sống trên con đường,
Kẻ làm ô uế đạo.
“Caturo samaṇā na pañcamatthi, (cundāti bhagavā) Te te āvikaromi sakkhipuṭṭho; Maggajino maggadesako ca, Magge jīvati yo ca maggadūsī”.“There are four ascetics, not a fifth.” said the Buddha to Cunda, “Being asked to bear witness, I will explain them to you: the path-victor, the path-teacher, the path-liver, and the path-wrecker.”

3Cunda:

Người thợ rèn Cunda,
Liền bạch với Thế Tôn:
Chư Phật nói thế nào,
Bậc chiến thắng con đường,
Bậc thiền định con đường,
Sao gọi không ước lường?
Con hỏi xin trả lời,
Vị sống đúng con đường?
Xin trình bày cho con,
Kẻ làm đường ô uế.
“Kaṁ maggajinaṁ vadanti buddhā, (iti cundo kammāraputto) Maggakkhāyī kathaṁ atulyo hoti; Magge jīvati me brūhi puṭṭho, Atha me āvikarohi maggadūsiṁ”.“Who is a path-victor according to the Buddhas?” said Cunda the smith, “and how is one an unequaled explainer of the path? Tell me when asked about one who lives the path, then declare the path-wrecker.”

4Thế Tôn:

Ai vượt khỏi nghi hoặc,
Vị thoát khỏi mũi tên,
Ưa thích cảnh Niết-bàn,
Không tham đắm vật gì,
Bậc lãnh đạo thế giới,
Chư Thiên và loài Người,
Chư Phật gọi vị ấy,
Bậc chiến thắng con đường.
“Yo tiṇṇakathaṅkatho visallo, Nibbānābhirato anānugiddho; Lokassa sadevakassa netā, Tādiṁ maggajinaṁ vadanti buddhā.“Rid of indecision, free of thorns, delighting in extinguishment, not fawning, a guide for the world with its gods. The Buddhas say one such is victor of the path.

5Ai ở đời biết được,
Pháp tối thượng, tối thượng,
Nói lên và phân tích,
Pháp ở đây là vậy.
Vị chặt đứt nghi hoặc,
Bậc ẩn sĩ, không dục,
Bậc Tỷ-kheo thứ hai
Được gọi thuyết con đường.
Paramaṁ paramanti yodha ñatvā, Akkhāti vibhajate idheva dhammaṁ; Taṁ kaṅkhachidaṁ muniṁ anejaṁ, Dutiyaṁ bhikkhunamāhu maggadesiṁ.Knowing the ultimate as ultimate, they explain and analyze the teaching right here. That sage unstirred, with doubt cut off, is the second mendicant, I say, the teacher of the path.

6Ai sống trên con đường,
Con đường pháp khéo giảng,
Sống chế ngự chánh niệm,
Bước đường không lỗi lầm,
Tỷ-kheo thứ ba này
Được gọi sống trên đường.
Yo dhammapade sudesite, Magge jīvati saññato satīmā; Anavajjapadāni sevamāno, Tatiyaṁ bhikkhunamāhu maggajīviṁ.Living restrained and mindful on the path of the well-taught passage of teaching, cultivating blameless states, is the third mendicant, I say, the path-liver.

7Ai sống ưa che đậy,
Dưới hình thức giới cấm,
Xông xáo, nhớp gia đình,
Bạt mạng và man trá,
Không chế ngự nhiếp phục,
Sống lắm mồm lắm miệng.
Người sở hành như vậy
Là kẻ ô uế đạo.
Chadanaṁ katvāna subbatānaṁ, Pakkhandī kuladūsako pagabbho; Māyāvī asaññato palāpo, Patirūpena caraṁ sa maggadūsī.Dressed like one true to their vows, pushy, rude, a corrupter of families, devious, unrestrained, chaff, the path-wrecker’s life is a sham.

8Vị cư sĩ thâm hiểu
Các hạng người như vậy,
Thánh đệ tử, nghe nhiều,
Có trí tuệ thông hiểu,
Sau khi rõ biết chúng,
Tất cả là như vậy.
Thấy vậy, vững lòng tin,
Không có bị sút giảm
Làm sao lại lẫn lộn,
Kẻ ác với người thiện,
Làm sao xem giống nhau,
Bậc tịnh, kẻ không tịnh.
Ete ca paṭivijjhi yo gahaṭṭho, Sutavā ariyasāvako sapañño; Sabbe netādisāti ñatvā, Iti disvā na hāpeti tassa saddhā; Kathaṁ hi duṭṭhena asampaduṭṭhaṁ, Suddhaṁ asuddhena samaṁ kareyyā”ti. Cundasuttaṁ pañcamaṁ.A layperson who gets this, a learned, wise noble disciple, knows that ‘They are not all like that one’. So when they see them they don’t lose their faith. For how could one equate them— the corrupt with the uncorrupt, the pure with the impure?”

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 1.5 (Cunda Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.5 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp