Phật Thuyết Như Vậy 55 · Iti 55

Kinh Tìm Cầu Thứ Hai

Dutiyaesanā Sutta

Kinh Tìm Cầu Thứ Hai nêu lại ba tầm cầu, rồi nói người chấp trước nắm giữ chúng thì chất chứa kiến xứ, còn người ly tham thì từ bỏ tầm cầu và nhổ lên kiến xứ.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Ba tầm cầu mà kinh nêu là dục tầm cầu, hữu tầm cầu và Phạm hạnh tầm cầu.
  • Người chấp trước nắm giữ các tầm cầu thì chất chứa đủ mọi loại kiến xứ.
  • Người ly tham, diệt ái thì từ bỏ tầm cầu, nhổ lên kiến xứ, không còn mong cầu và không còn nghi hoặc.

Kinh Tìm Cầu Thứ Hai nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mang số hiệu Iti 55 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba tầm cầu. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 4.6, và lời kết nằm ở đoạn 5.1 đến 5.2.

Chữ diṭṭhiṭṭhānā, kiến xứ, chỉ những chỗ trú của quan điểm mà tâm bám vào và coi là sự thật. Bài kệ đối chiếu hai phía: một phía chấp trước tầm cầu thì chất chứa kiến xứ, một phía ly tham và diệt ái thì từ bỏ tầm cầu và nhổ lên kiến xứ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kiến xứ nguy hiểm không phải vì nó sai về chữ nghĩa, mà vì tâm đã trú vào đó và không còn nhìn được điều khác.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
esanā
tầm cầu
kāmesanā
dục tầm cầu
bhavesanā
hữu tầm cầu
brahmacariyesanā
Phạm hạnh tầm cầu
saccaparāmāso
chấp chặt là sự thật
diṭṭhiṭṭhānā
kiến xứ
samussayā
chất chứa
taṇhakkhayavimuttino
giải thoát nhờ diệt ái
paṭinissaṭṭhā
được từ bỏ
samūhatā
được nhổ lên

Kinh Tìm Cầu Thứ Hai

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này. Thế nào là ba? Dục tầm cầu, hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tisso imā, bhikkhave, esanā. Katamā tisso? Kāmesanā, bhavesanā, brahmacariyesanā— imā kho, bhikkhave, tisso esanā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three searches. What three? The search for sensual pleasures, the search for continued existence, and the search for a spiritual path. These are the three searches.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Dục và hữu tầm cầu,
Cùng Phạm hạnh tầm cầu
Nếu chấp trước nắm giữ
Chính đây là sự thật,
Như vậy là chất chứa,
Đủ mọi loại kiến xứ,
Với ai không ham muốn
Đối với các loại tham,
Vị ấy được giải thoát,
Nhờ diệt được khả ái,
Tầm cầu được từ bỏ,
Kiến xứ được nhổ lên,
Tỷ-kheo do diệt tận
Các loại tầm cầu ấy,
Không còn có mong cầu,
Không còn có nghi hoặc.
“Kāmesanā bhavesanā,
brahmacariyesanā saha;
Iti saccaparāmāso,
diṭṭhiṭṭhānā samussayā.
Sabbarāgavirattassa,
taṇhakkhayavimuttino;
Esanā paṭinissaṭṭhā,
diṭṭhiṭṭhānā samūhatā;
Esanānaṁ khayā bhikkhu,
nirāso akathaṅkathī”ti.
“The search for sensual pleasures, <j>for continued existence, and the search for a spiritual path; the holding tight to the thought, ‘this is the truth’, and the mass of grounds for views— for one detached from all lusts, freed by the ending of craving, that searching has been relinquished, and those grounds for views eradicated. With the ending of searches, a mendicant is free of hope and indecision.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Chaṭṭhaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Bài kinh này không lặp lại bài kinh trước mà đi thêm một bước: nó nói rõ hậu quả của việc nắm giữ tầm cầu là chất chứa kiến xứ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tầm cầu ban đầu chỉ là một hướng tìm kiếm, nhưng khi tâm nắm giữ nó và coi nó là sự thật thì tìm kiếm ấy cứng lại thành một chỗ trú, và từ chỗ trú ấy sinh ra tranh cãi với những chỗ trú khác.

Phía bên kia của bài kệ nói người ly tham mọi tham và giải thoát nhờ diệt ái thì từ bỏ tầm cầu, nhổ lên kiến xứ, không còn mong cầu và không còn nghi hoặc. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, không còn nghi hoặc ở đây đi cùng với việc không còn chỗ trú để bảo vệ, vì nghi hoặc thường sinh ra khi tâm phải giữ một quan điểm trước những quan điểm khác.

Ví dụ của người viết (không phải lời kinh), không phải chuyện trong kinh: một người cho rằng chỉ có một cách làm việc mới đúng, rồi khi đồng nghiệp làm khác đi thì người ấy bực bội và tranh cãi, và sự bực bội ấy bắt đầu từ việc nắm giữ cách làm mà người ấy chọn như một sự thật chứ không bắt đầu từ cách làm của đồng nghiệp.

Kinh kết bằng hình ảnh vị Tỷ-kheo do diệt tận các tầm cầu mà không còn mong cầu, không còn nghi hoặc. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, diệt tận tầm cầu không làm người ấy trở nên thờ ơ, mà làm người ấy hết phải bảo vệ một chỗ trú, nên tâm có thể nhìn sự việc như nó đang là.

Nắm giữ tầm cầu thì chất chứa kiến xứ, còn diệt ái và ly tham thì từ bỏ tầm cầu và nhổ lên kiến xứ.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 55 (Dutiyaesanā Sutta, Itivuttaka 55). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 55 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp