Phật Thuyết Như Vậy 54 · Iti 54

Kinh Tìm Cầu Thứ Nhất

Paṭhamaesanā Sutta

Kinh Tìm Cầu Thứ Nhất nêu ba tầm cầu là dục tầm cầu, hữu tầm cầu và Phạm hạnh tầm cầu, và dạy đệ tử Phật quán tri các tầm cầu cùng sự hiện hữu của chúng để tâm được diệt.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Ba tầm cầu mà kinh nêu là dục tầm cầu, hữu tầm cầu và Phạm hạnh tầm cầu.
  • Đệ tử Phật quán tri các tầm cầu và sự hiện hữu của các tầm cầu.
  • Tại nơi các tầm cầu diệt, con đường đưa đến diệt hiện ra và vị ấy không còn ước muốn, tịch tịnh.

Kinh Tìm Cầu Thứ Nhất nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mang số hiệu Iti 54 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba tầm cầu. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 4.4, và lời kết nằm ở đoạn 5.1 đến 5.2.

Chữ esanā, tầm cầu, chỉ sự tìm kiếm đang thúc đẩy tâm đi về một hướng nào đó. Kinh nêu cả dục tầm cầu, hữu tầm cầu và Phạm hạnh tầm cầu mà không khen hay chê riêng một loại nào trong phần văn xuôi, rồi bài kệ gắn việc quán tri với định tĩnh, tỉnh giác và chánh niệm. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tầm cầu ở đây bao gồm cả những tìm kiếm tốt đẹp, vì điều kinh nhấn mạnh là sự quán tri và diệt tận, chứ không phải việc đổi một đối tượng tìm kiếm này lấy một đối tượng khác.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
esanā
tầm cầu
kāmesanā
dục tầm cầu
bhavesanā
hữu tầm cầu
brahmacariyesanā
Phạm hạnh tầm cầu
samāhito
định tĩnh
sampajāno
tỉnh giác
sato
chánh niệm
sāvako
đệ tử
pajānāti
quán tri
sambhavaṁ
sự hiện hữu

Kinh Tìm Cầu Thứ Nhất

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này. Thế nào là ba? Dục tầm cầu, hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tisso imā, bhikkhave, esanā. Katamā tisso? Kāmesanā, bhavesanā, brahmacariyesanā— imā kho, bhikkhave, tisso esanā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three searches. What three? The search for sensual pleasures, the search for continued existence, and the search for a spiritual path. These are the three searches.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Định tĩnh và tỉnh giác,
Chánh niệm đệ tử Phật,
Quán tri các tầm cầu,
Và hiện hữu tầm cầu,
Ở đây, tâm ấy diệt.
Và con đường đến diệt.
Tỷ-kheo do diệt tận,
Các loại tầm cầu ấy,
Không còn có ước muốn
Được lắng dịu tịch tịnh.
“Samāhito sampajāno,
sato buddhassa sāvako;
Esanā ca pajānāti,
esanānañca sambhavaṁ.
Yattha cetā nirujjhanti,
maggañca khayagāminaṁ;
Esanānaṁ khayā bhikkhu,
nicchāto parinibbuto”ti.
“Stilled, aware, a mindful disciple of the Buddha understands searches, the cause of searches, where they cease, and the path that leads to their ending. With the ending of searches, a mendicant is hungerless, quenched.”

3Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Pañcamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh dùng cùng một khuôn với bài kinh về cảm thọ, và sự lặp lại này tự nó đã nói một điều: tầm cầu cũng cần được quán tri như cảm thọ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tâm thường không thấy sự tìm kiếm đang diễn ra, vì tìm kiếm đã trở thành thói quen đi kèm mọi việc làm, nên quán tri là bước đưa thói quen ấy ra ánh sáng.

Bài kệ nói ở nơi các tầm cầu diệt thì tâm ấy diệt, và con đường đến diệt hiện ra, rồi vị Tỷ-kheo do diệt tận các tầm cầu mà không còn ước muốn, được lắng dịu tịch tịnh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, không còn ước muốn ở đây không phải là không làm gì nữa, mà là làm mà không bị sự tìm kiếm thúc ép từ phía sau.

Ví dụ của người viết (không phải lời kinh), không phải chuyện trong kinh: một người mở điện thoại để xem giờ rồi nhận ra người ấy đã lướt xem nhiều thứ không định xem, và khi thấy rõ sự tìm kiếm đang kéo người ấy đi thì người ấy đặt điện thoại xuống mà không tự trách.

Kinh không dạy đè nén tầm cầu hay thay tầm cầu này bằng tầm cầu khác, mà dạy quán tri cho đến khi tầm cầu diệt tận. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, diệt tận khác với đè nén ở chỗ đè nén còn giữ nguyên sức đẩy, còn diệt tận là sức đẩy ấy không còn chỗ bám.

Quán tri ba tầm cầu trong định tĩnh, tỉnh giác và chánh niệm là đường đến diệt tận tầm cầu và tịch tịnh.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 54 (Paṭhamaesanā Sutta, Itivuttaka 54). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 54 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp