Kinh Tỳ-kheo-ni Vajirā
Vajirā Sutta
Kinh Tỷ-kheo-ni Vajirā kể lại cuộc đối đáp ngắn giữa Tỷ-kheo-ni Vajirā và Ác ma trong rừng Andha, xoay quanh một câu hỏi: ai tạo ra chúng sanh. Vajirā đáp rằng chúng sanh chỉ là cách gọi cho các uẩn quy tụ.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Ác ma hỏi ai tạo ra chúng sanh, chúng sanh từ đâu sanh và đi đâu diệt.
- Vajirā đáp rằng chỉ có các hành (saṅkhāra) quy tụ, như các bộ phận quy tụ thì gọi là xe, cũng vậy các uẩn (khandha) quy tụ thì thông tục gọi là chúng sanh.
- Chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại, khổ diệt, ngoài khổ không có gì sanh và ngoài khổ không có gì diệt.
Kinh Tỷ-kheo-ni Vajirā thuộc Tương Ưng Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh, nằm trong phẩm các Tỷ-kheo-ni. Kinh mở đầu tại Sāvatthi, nơi Tỷ-kheo-ni Vajirā sau bữa ăn đi vào rừng Andha để nghỉ ban ngày, rồi ngồi dưới một gốc cây. Ác ma đến muốn làm nàng run sợ để nàng từ bỏ Thiền định, và nói lên bài kệ hỏi về chúng sanh ở đoạn 2.1 đến 2.4.
Cấu trúc của kinh đi theo một vòng ngắn và rõ. Vajirā suy nghĩ xem ai đã nói bài kệ, rồi nhận ra đó là Ác ma ở đoạn 3.1 đến 3.5. Nàng đáp lại Ác ma bằng bài kệ ở đoạn 4.1 đến 6.4, dùng ví dụ chiếc xe và các uẩn để trả lời. Kinh kết lại ở đoạn 7.1 đến 8.6, khi Ác ma biết đã bị nhận ra nên buồn khổ, thất vọng và biến mất tại chỗ ấy.
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu trả lời không tranh cãi với câu hỏi mà tháo gỡ chính giả định nằm trong câu hỏi.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- satto
- chúng sanh
- saṅkhāra
- hành
- khandha
- uẩn
- dukkha
- khổ
- māra
- Ác ma
- samādhi
- Thiền định
- ratho
- xe
- sammuti
- quy ước, thông tục
- anattā
- vô ngã, không có một cái ta riêng
Kinh Tỳ-kheo-ni Vajirā
1.1–1.4Ở tại Sāvatthi.
Tỷ-kheo-ni Vajirà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Vajirà đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày, đi sâu vào rừng Andha và ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.Sāvatthinidānaṁ. Atha kho vajirā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi. Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena andhavanaṁ tenupasaṅkami divāvihārāya. Andhavanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.At Sāvatthī. Then the nun Vajirā robed up in the morning and, taking her bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. She wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on her return from almsround, she went to the Dark Forest for the day’s meditation, plunged deep into it, and sat at the root of a tree to meditate.
1.5Rồi Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Vajirà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Vajirà:Atha kho māro pāpimā vajirāya bhikkhuniyā bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo yena vajirā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vajiraṁ bhikkhuniṁ gāthāya ajjhabhāsi:Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Vajirā feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from immersion, went up to her and addressed her in verse:
2.1–2.4Do ai, hữu tình này, Được sanh, được tạo tác? Người tạo hữu tình này, Hiện nay ở tại đâu? Từ đâu hữu tình sanh? Đi đâu hữu tình diệt?“Kenāyaṁ pakato satto, kuvaṁ sattassa kārako; Kuvaṁ satto samuppanno, kuvaṁ satto nirujjhatī”ti.“Who created this sentient being? Where is its maker? Where has the being arisen? And where does it cease?”
3.1–3.2Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”Atha kho vajirāya bhikkhuniyā etadahosi: “ko nu khvāyaṁ manusso vā amanusso vā gāthaṁ bhāsatī”ti?Then the nun Vajirā thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”
3.3–3.4Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà lại suy nghĩ: “Chính là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ này”.Atha kho vajirāya bhikkhuniyā etadahosi: “māro kho ayaṁ pāpimā mama bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo gāthaṁ bhāsatī”ti.Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from immersion!”
3.5Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà biết được: “Đây là Ác ma”, liền trả lời Ác ma với bài kệ:Atha kho vajirā bhikkhunī “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā, māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi paccabhāsi:Then Vajirā, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
4.1–6.4Sao Ông lại nói hoài, Đến hai chữ chúng sanh? Phải chăng, này Ác ma, Ông rơi vào tà kiến? Đây quy tụ các hành, Chúng sanh được hình thành, Như bộ phận quy tụ, Tên xe được nói lên. Cũng vậy, uẩn quy tụ, Thông tục gọi chúng sanh. Chỉ có khổ được sanh, Khổ tồn tại, khổ diệt, Ngoài khổ, không gì sanh, Ngoài khổ không gì diệt.“Kiṁ nu sattoti paccesi, māra diṭṭhigataṁ nu te; Suddhasaṅkhārapuñjoyaṁ, nayidha sattupalabbhati. Yathā hi aṅgasambhārā, hoti saddo ratho iti; Evaṁ khandhesu santesu, hoti sattoti sammuti. Dukkhameva hi sambhoti, dukkhaṁ tiṭṭhati veti ca; Nāññatra dukkhā sambhoti, nāññaṁ dukkhā nirujjhatī”ti.“Why do you believe there’s such a thing as a <j>‘sentient being’? Māra, is this your theory? This is just a pile of conditions, you won’t find a sentient being here. When the parts are assembled we use the word ‘chariot’. So too, when the aggregates are present ‘sentient being’ is the convention we use. But it’s only suffering that comes to be, lasts a while, then expires. Naught but suffering comes to be, naught but suffering ceases.”
7.1–8.6Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Vajirà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.
Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ vajirā bhikkhunī”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti. Bhikkhunīvaggo paṭhamo. Tassuddānaṁ Āḷavikā ca somā ca, Gotamī vijayā saha; Uppalavaṇṇā ca cālā, Upacālā sīsupacālā ca; Selā vajirāya te dasāti. Bhikkhunīsaṁyuttaṁ samattaṁ.Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Vajirā knows me!” miserable and sad, vanished right there. The Linked Discourses on Nuns are complete.
Giải nghĩa ngắn
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu hỏi của Ác ma giả định rằng phải có một ai đó tạo ra chúng sanh, một nơi chúng sanh từ đó sanh ra và một nơi chúng sanh đi đến để diệt mất. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chính giả định này mới là chỗ cần tháo gỡ, vì nó đặt một chủ thể đứng sau mọi hiện tượng.
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu trả lời của Vajirā không tìm một chủ thể khác để thay thế. Nàng nói chỉ có các hành quy tụ lại, và dùng ví dụ chiếc xe: khi các bộ phận quy tụ thì người ta gọi là xe, cũng vậy khi các uẩn quy tụ thì người ta thông tục gọi là chúng sanh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tên gọi chúng sanh vì vậy chỉ là tên quy ước cho một tập hợp, không phải là một thực thể riêng nằm ngoài tập hợp ấy.
Chữ vô ngã, tiếng Pāli là anattā, theo cách đọc của người viết chỉ ý không có một cái ta riêng đứng sau các hiện tượng.
Từ đó, bài kệ đi đến câu kết luận: chỉ có khổ được sanh, khổ tồn tại, khổ diệt, ngoài khổ không có gì sanh và ngoài khổ không có gì diệt. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu này không phủ nhận đời sống đang diễn ra, mà phủ nhận một cái ta thường trú đứng sau đời sống ấy.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan gọi một vật là chiếc bàn khi mặt bàn, bốn chân và đinh ốc ráp lại với nhau, và khi tháo rời các bộ phận ra thì không còn tìm thấy chiếc bàn ở đâu nữa.
Khi Vajirā nhận ra người hỏi là Ác ma, Ác ma liền buồn khổ, thất vọng và biến mất. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, nỗi sợ mà Ác ma muốn gây ra chỉ có sức mạnh khi chưa bị nhận ra, và sự nhận ra rõ ràng đã làm cho nỗi sợ ấy tan đi.
Chúng sanh chỉ là tên gọi thông tục cho các uẩn quy tụ, và ngoài khổ ra, không có gì sanh hay diệt.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 5.10 (Vajirā Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, SN 5.10 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.