Mười Ba-la-mật

Mười Ba-la-mật là gì: mười phẩm hạnh Bồ-tát vun bồi qua nhiều kiếp

Bố thí, trì giới, xuất ly, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, quyết định, tâm từ, tâm xả. Mười phẩm hạnh này là con đường Bồ-tát đi qua nhiều kiếp, và cũng là những bài học rất gần với đời sống hằng ngày.

Tóm lại: Ba-la-mật (pāramī) là những phẩm hạnh được vun bồi đến mức trọn vẹn. Danh sách mười pháp đến từ Phật Sử (Buddhavaṃsa), chương kể chuyện ẩn sĩ Sumedha, và được minh họa bằng các chuyện tiền thân trong Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka). Mỗi pháp trong mười pháp ấy đều có gốc trong lời kinh Nikāya, nên người tại gia hôm nay hoàn toàn có thể thực hành.

Chữ “Ba-la-mật” nghĩa là gì

“Ba-la-mật” là cách phiên âm qua chữ Hán của pāramitā; tiếng Pāli thường dùng pāramī. Các nhà chú giải Nam truyền giải thích chữ này từ parama, “cao nhất”: Ba-la-mật là phẩm chất của bậc hướng đến điều cao nhất, hay là phẩm chất được làm cho đến mức cao nhất. Một cách hiểu quen thuộc khác gắn chữ này với pāra, “bờ bên kia”: những phẩm hạnh đưa người tu sang bờ giác ngộ. Hai cách hiểu bổ sung cho nhau: Ba-la-mật là việc tốt được làm trọn vẹn và bền bỉ.

Danh sách mười pháp đến từ đâu

Theo Phật Sử, vào thời Đức Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng) trong quá khứ xa xưa, ẩn sĩ Sumedha phát nguyện thành Phật. Sau đó, ẩn sĩ tự quán sát xem những pháp nào “làm chín muồi giác ngộ” (bodhipācanā), tìm khắp mười phương, và lần lượt thấy mười pháp (Bv 2, đoạn 115–165). Mỗi pháp đi kèm một hình ảnh dễ nhớ. Với bố thí, đó là chiếc chum đầy nước bị lật úp:

Cũng giống như cái chum được chứa đầy đã bị úp ngược lại bởi bất cứ người nào thì tuôn nước ra không còn dư sót, hoàn toàn không giữ lại ở trong đó.

Tương tợ y như thế, khi nhìn thấy những người cầu xin dầu hèn, sang, hay trung bình, ngươi hãy cho ra vật thí không chừa lại ví như cái chum đã được úp ngược.

Phật Sử 2, đoạn 118–119

Với trì giới là con bò yak thà chết chứ không bỏ chùm lông đuôi bị vướng; với nhẫn nại là mặt đất nhận mọi thứ, sạch hay dơ, mà không phản kháng; với quyết định là ngọn núi đá đứng yên trước gió lớn. Khi quán xét xong mười pháp, ẩn sĩ nói: ngoài những pháp này, không có pháp nào khác làm chín muồi giác ngộ (đoạn 165).

Hạnh Tạng là một tập trong Tiểu Bộ, gồm 35 chuyện tiền thân ngắn bằng kệ, do Đức Phật kể lại hạnh của mình. Các chuyện được xếp theo bảy Ba-la-mật: bố thí (10 chuyện), trì giới (10), xuất ly (5), quyết định (1), chân thật (6), tâm từ (2) và tâm xả (1). Trí tuệ, tinh tấn và nhẫn nại không có chuyện riêng, nhưng được nhắc trong đoạn kệ kết: “hỏi han người trí, tinh tấn bậc nhất, đạt đến cùng tột nhẫn nại” (Cp 35, đoạn 12.1–12.3). Vì thế, khi minh họa ba pháp này, truyền thống Nam truyền thường kể các chuyện trong tập Jātaka, như chuyện Mahosadha cho trí tuệ, Mahājanaka cho tinh tấn, Khantivādī cho nhẫn nại. Trong chuyên mục này, số Jātaka được ghi theo cách đánh số thông dụng của bản Pāli in ở phương Tây (Fausbøll); với các chuyện lớn cuối tập, SuttaCentral xếp theo thứ tự của bản Miến Điện nên có vài số khác, và bài có liên quan ghi rõ chỗ khác ấy.

Hiểu đúng: Ba-la-mật và kinh Nikāya

Bạn sẽ không tìm thấy danh sách mười Ba-la-mật trong bốn bộ Nikāya chính. Danh sách này thuộc Phật Sử, Hạnh Tạng và chú giải. Nhưng từng pháp thì có mặt khắp lời kinh: giữ năm giới là “món quà lớn” cho vô số chúng sinh (AN 8.39, đoạn 3.5–3.7); nhẫn nại đến mức không khởi sân dù bị cưa xẻ thân thể (MN 21); tâm từ như người mẹ che chở đứa con một (Snp 1.8, kệ 7); chánh kiến, chánh tư duy về xuất ly, chánh tinh tấn trong Bát chánh đạo (SN 45.8). Có thể nói Ba-la-mật là một cách gom các phẩm chất kinh dạy thành mười bài tập, và kể chúng bằng chuyện để dễ nhớ.

Mười Ba-la-mật và sáu Ba-la-mật Bắc tông

Nhiều người Việt quen với sáu Ba-la-mật trong kinh điển Bắc tông: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ; có truyền thống mở rộng thành mười với phương tiện, nguyện, lực và trí. Danh sách Nam truyền có bố thí, trì giới, nhẫn nại, tinh tấn, trí tuệ giống hệt, và thêm xuất ly, chân thật, quyết định, tâm từ, tâm xả. Thiền định không thành một mục riêng: trong cách hiểu Nam truyền, nó nằm trong xuất ly, vì lìa dục là điều kiện để tâm định; còn tâm từ và tâm xả vốn cũng là những đề mục thiền.

Khác biệt lớn hơn nằm ở nhấn mạnh. Bắc tông đề cao Bồ-tát đạo như con đường mọi người được khuyến khích phát tâm theo. Nam truyền xem con đường Bồ-tát là con đường của người phát nguyện thành Phật, một lựa chọn cao quý nhưng hiếm, còn đa số đệ tử hướng đến quả A-la-hán; tuy vậy, theo chú giải, các vị đệ tử cũng phải vun bồi những phẩm chất này ở mức của mình. Hai truyền thống nhìn cùng một vẻ đẹp từ hai góc, và không cần so hơn kém.

Người tại gia tu Ba-la-mật thế nào

Bạn không cần phát nguyện lớn để bắt đầu. Hãy xem mỗi Ba-la-mật như một hướng rèn tâm: cho đi khi có thể, giữ năm giới, bớt chạy theo ham muốn, học hỏi và suy xét, bền bỉ với việc tốt, kiềm chế khi nóng giận, nói thật, giữ lời, thương người và giữ lòng bình thản trước được mất. Một nhân viên văn phòng từ chối khai khống chi phí là đang tu chân thật; một người mẹ kiên nhẫn lặp lại lời dặn con lần thứ mười là đang tu nhẫn nại.

Điều cần tránh là xem Ba-la-mật như tài khoản phước để đổi lấy may mắn. Trong các chuyện tiền thân, Bồ-tát làm việc khó vì hướng đến giác ngộ, không vì mặc cả. Giá trị của Ba-la-mật nằm ở chỗ nó thay đổi chính người thực hành.

Gợi ý thực hành

Hãy chọn một Ba-la-mật cho mỗi tuần, đọc bài viết về pháp ấy trong chuyên mục này, và đặt một việc nhỏ cụ thể để làm. Mười tuần sau, bạn sẽ đi hết một vòng.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Sử (Buddhavaṃsa), chương 2, chuyện ẩn sĩ Sumedha, Bv 2 trên SuttaCentral.
  2. Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka), 35 chuyện, Cp 1 trên SuttaCentral đến Cp 35 trên SuttaCentral.
  3. Tăng Chi Bộ 8.39, Kinh Nguồn Phước, AN 8.39 trên SuttaCentral.
  4. Trung Bộ 21, Kinh Ví Dụ Cái Cưa, MN 21 trên SuttaCentral.
  5. Kinh Tập 1.8, Kinh Từ Bi, Snp 1.8 trên SuttaCentral.
  6. Tương Ưng Bộ 45.8, Kinh Phân Tích Bát Chánh Đạo, SN 45.8 trên SuttaCentral.
  7. Các đoạn Phật Sử trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  8. Các câu dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli Mahāsaṅgīti.
  9. Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Đọc nguyên văn bài kinh