Tích Bà La Môn Bạn Của Trưởng Lão Xá Lợi Phất
Sāriputtattherassa sahāyakabrāhmaṇavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 108 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngàn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 108)
“Yaṅkiñci yiṭṭhañca hutañca loke,
Saṃvaccharaṃ yajetha puññapekkho;
Sabbampi taṃ na catubhāgameti,
Abhivādanā ujugatesuseyyo.”
“Suốt năm cúng tế vật,
Để cầu phước ở đời,
Không bằng một phần tư,
Kính lễ bậc chánh trực”.
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú này, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài ngự tại Veḷuvana (Trúc Lâm), đề cập đến thầy Bà la môn bạn của Trưởng lão Sārīputta (Xá Lợi Phất).
Trưởng lão cũng đến thăm thầy và hỏi:
- Này thầy Bà la môn, thầy có làm điều thiện chi không?
- Bạch Ngài có.
- Thầy đã làm điều gì?
- Tôi đã làm nhiều việc Bố thí hy sinh (Yāgaṃ) to tát. Theo truyền thuyết, người ta dứt bỏ nhiều của để thực hành việc Bố thí hy sinh này.
Trưởng lão cũng tiếp hỏi thêm như trước, rồi dắt người bạn cũ đến yết kiến Đức Thế Tôn, tường trình hết mọi sự cho Ngài nghe rồi yêu cầu:
- Bạch Ngài, xin Ngài từ bi hoan hỷ thuyết pháp về con đường lên cõi Phạm Thiên cho thầy này nghe.
Đức Bổn Sư hỏi lại:
- Nầy thầy Bà la môn, thầy có nói như thế không?
- Dạ thưa có.
Nghe vậy, Đức Bổn Sư bảo rằng:
- Nầy thầy Bà la môn, việc thầy hằng năm làm việc Bố thí trọng thể đến quần chúng trong thế gian, so với việc người phát tâm trong sạch có tác ý thiện, muốn đảnh lễ những Thinh Văn của Ta thì một phần tư giá trị cũng chưa bằng.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và kết luận bằng bài kệ:
“Yaṅkiñci yiṭṭhañca hutañca loke,
Saṃvaccharaṃ yajetha puññapekkho;
Sabbampi taṃ na catubhāgameti,
Abhivādanā ujugatesu seyyo.”
“Cúng dường, Bố thí suốt năm,
Công đức chẳng được cao thâm như là.
Một phần tư được trích ra,
Từ phước kính lễ các nhà Chánh chơn.”
CHÚ GIẢI:
Yaṃ kiñci: tiếng nói chung bao gồm tất cả mọi việc Bố thí không dư sót.
Yiṭṭhaṃ: sự Bố thí trọng đại, nhất là trong những ngày lễ.
Hutaṃ: vật Bố thí mà người tích trữ rồi đem ra hậu đãi khách quí, do có đức tin nơi nghiệp quả mà bố thí.
Saṃvaccharaṃ yajetha: sự Bố thí với đầy đủ chi tiết kể trên, suốt trong năm trường như vậy, nhưng chỉ bố thí đến quần chúng thế gian, mặc dầu khắp cõi Ta bà.
Puññapekko: muốn được phước báu.
Ujugatesu: những bậc đã đi trên Thánh đạo, từ bậc thấp nhất là các vị Tu Đà Hườn, đến bậc cao nhất là A La Hán. Đối với những bậc đã nói trên đây, ai có tác ý thiện (Kusalacetanā) do đã phát tâm Tịnh Tín (Pasannena cittena) muốn cúi mình lễ bái, thì quả phước cao quí gấp bốn lần tất cả mọi việc Bố thí thông thường, bởi thế cho nên nói: “Việc kính lễ bậc chánh trực thì quí hơn.”.
Cuối thời Pháp, thầy Bà la môn bạn của Trưởng lão Xá Lợi Phất đắc quả Tu Đà Hườn. Nhiều người khác cũng đắc Thánh quả nhất là Tu Đà Hườn quả.
Pháp Chủ còn mong độ bạn thân,
Sát sanh trọng thể cúng Thiên thần,
Dẫn chàng đến Phật, nhờ Phật thuyết,
Chánh Pháp, cho chàng biết Quả nhân!
Phật dạy: Lửa thần, cúng cả năm,
Sát sanh trọng thể, chẳng ăn nhằm,
Vì không sánh được phần tư phước,
Bố thí bần dân, cúng Thánh Tăng.
DỨT TÍCH BÀ LA MÔN
Sāriputtattherassa sahāyakabrāhmaṇavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yaṃ kiñci yiṭṭhaṃ vāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto sāriputtattherassa sahāyakabrāhmaṇaṃ ārabbha kathesi.
Tampi hi thero upasaṅkamitvā “kiṃ, brāhmaṇa, kiñci kusalaṃ karosī”ti pucchi. “Āma, bhante”ti. “Kiṃ karosī”ti? “Yiṭṭhayāgaṃ yajāmī”ti. “Tadā kira taṃ yāgaṃ mahāpariccāgena yaja”nti. Ito paraṃ thero purimanayeneva pucchitvā taṃ satthu santikaṃ netvā taṃ pavattiṃ ārocetvā “imassa, bhante, brahmalokassa maggaṃ kathethā”ti āha. Satthā, “brāhmaṇa, evaṃ kirā”ti pucchitvā “evaṃ, bho gotamā”ti vutte, “brāhmaṇa, tayā saṃvaccharaṃ yiṭṭhayāgaṃ yajantena lokiyamahājanassa dinnadānaṃ pasannacittena mama sāvakānaṃ vandantānaṃ uppannakusalacetanāya catubhāgamattampi na agghatī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Yaṃ kiñci yiṭṭhaṃ va hutaṃ va loke,
Saṃvaccharaṃ yajetha puññapekkho;
Sabbampi taṃ na catubhāgameti,
Abhivādanā ujjugatesu seyyo”ti.
Tattha yaṃ kiñcīti anavasesapariyādānavacanametaṃ. Yiṭṭhanti yebhuyyena maṅgalakiriyādivasesu dinnadānaṃ. Hutanti abhisaṅkharitvā kataṃ pāhunadānañceva, kammañca phalañca saddahitvā katadānañca. Saṃvaccharaṃ yajethāti ekasaṃvaccharaṃ nirantarameva vuttappakāraṃ dānaṃ sakalacakkavāḷepi lokiyamahājanassa dadeyya. Puññapekkhoti puññaṃ icchanto. Ujjugatesūti heṭṭhimakoṭiyā sotāpannesu uparimakoṭiyā khīṇāsavesu. Idaṃ vuttaṃ hoti – “evarūpesu pasannacittena sarīraṃ onamitvā vandantassa kusalacetanāya yaṃ phalaṃ, tato catubhāgampi sabbaṃ taṃ dānaṃ na agghati, tasmā ujugatesu abhivādanameva seyyo”ti.
Desanāvasāne so brāhmaṇo sotāpattiphalaṃ patto, aññepi bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Sāriputtattherassa sahāyakabrāhmaṇavatthu sattamaṃ.
VIII. 7. Sāriputta’s Friend
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
108. Whatsoever a man sacrifice...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to Elder Sāriputta’s friend.
The Elder approached him also and asked him, “Brahman, do you ever do a single good deed?” “Yes, Reverend Sir.” “What do you do?” “I offer sacrificial slaughter.” (At that time, we are told, it was the custom to offer sacrificial slaughter at an expenditure of immense sums of money.) The Elder, after questioning his companion in the manner related above, conducted him to the Teacher, informed him of the incident, and said to him, “Reverend Sir, tell this man the way to the World of Brahmā.” The Teacher asked him, “Brahman, are you correctly reported?” “Yes,” replied the Brahman. “Brahman, though you should offer sacrificial slaughter for a year, yet would your act not be worth the fourth part of the act of him who, with believing heart, bestows alms on the populace, or of those who, with good intention, render homage to my disciples.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,
108. Whatsoever, either by way of sacrificial slaughter or by way of oblation,
Though it be for a year, a man sacrifice, desiring merit,
All that comes not to the value of a fourth part;
Reverence for them that are upright is better.
- Text: N ii. 233-235.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.