Tích Cậu Bé Ích Thọ
Āyuvaḍḍhanakumāravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 109 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngàn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 109)
“Abhivādanasīlissa,
Niccaṃ vuḍḍhāpacāyino;
Cattāro dhammā vaḍḍhanti,
Āyu vaṇṇo sukhaṃ bataṃ.”
“Thường tôn trọng, kính lễ,
Bậc kỳ lão trưởng thượng,
Bốn Pháp được tăng trưởng:
Thọ, sắc, lạc, sức mạnh”.
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết, khi Ngài ngự tại xứ Dīghalambika (Đi Khá Lam Bí Cá), ở trong một cái cốc trong rừng (araññakuṭikā), đề cập đến công tử Dīghāyu (Trường Thọ).
Tương truyền: Có hai vị Bà la môn cư ngụ trong thành Dīghalambika, sau khi xuất gia theo ngoại đạo đã đi ta bà thực hành khổ hạnh (Tapacaraṇaṃ) trong bốn mươi tám năm. Một trong hai đạo sĩ ấy nghĩ rằng: “Dòng dõi ta sẽ bị tiêu diệt, ta sẽ hoàn tục”.
Thế rồi, đạo sĩ bán hết cho người khác những đồ đạc dụng cụ đạo sĩ của mình làm ra, lấy tiền mua súc vật về nuôi và về sau khá giả, thầy cưới vợ và tạo lập gia đình. Rồi vợ thầy sanh được một đứa con trai.
Vị đạo sĩ kia đã xuất ngoại, mới trở về thành trong mấy ngày. Nghe tin đạo sĩ trở về, thầy Bà la môn dắt cả vợ con đi thăm bạn cũ. Gặp đạo sĩ, thầy trao con cho vợ ẵm để thầy đảnh lễ. Người mẹ cũng trao con cho cha bồng để mình đảnh lễ đạo sĩ. Đạo sĩ chúc cho cả hai vợ chồng được trường thọ. Đến phiên đứa con đảnh lễ thì đạo sĩ làm thinh.
Người cha bèn hỏi đạo sĩ:
- Bạch Ngài, tại sao khi chúng tôi đảnh lễ Ngài chúc chúng tôi được trường thọ. Còn khi đứa nhỏ nầy đảnh lễ Ngài không nói chi cả?
- Nầy thầy Bà la môn, đứa bé nầy sắp lâm đại nạn.
- Bạch Ngài, nó sẽ sống được bao lâu?
- Nầy Bà la môn, nó sẽ sống được bảy ngày.
- Bạch Ngài, có phép gì tránh khỏi tai nạn chăng?
- Ta chẳng biết phép gì tránh nạn cả.
- Bạch Ngài, có ai biết phép ấy chăng?
- Sa môn Cồ Đàm biết, thầy hãy tìm đến Ngài mà hỏi.
- Đi đến đó tôi sợ đứt Giới hạnh đạo sĩ của mình chăng?
- Nầy thầy có lòng thương tưởng đến con thì đừng quá câu nệ như thế, hãy đi tìm Ngài mà hỏi đi.
Thầy Bà la môn đem cả vợ con đến yết kiến Đức Bổn Sư, khi thầy đảnh lễ, Ngài phúc chúc: “Thầy hãy là người trường thọ.”, khi vợ thầy đảnh lễ, Ngài cũng chúc trường thọ, nhưng khi đứa con đảnh lễ, Ngài cũng lặng thinh.
Thầy Bà la môn cũng hỏi Đức Bổn Sư như đã hỏi đạo sĩ bạn và Đức Bổn Sư cũng đáp lại y như lời của đạo sĩ ấy. Người ta nói: Thầy Bà la môn không hiểu thấu Trí tuệ Toàn Giác (Sabbaññutaññāṇaṃ), chỉ căn cứ theo chú thuật của mình mà so sánh, nên nghĩ rằng bậc Toàn Giác cũng không biết phương pháp nào giúp cho đứa bé thoát khỏi tai họa được.
Thầy Bà la môn hỏi Đức Bổn Sư:
- Bạch Ngài, có phép nào ngăn trở, xa lánh được tai họa chăng?
- Nầy Bà la môn có thể có.
- Có thể có phép gì, bạch Ngài?
- Nếu như thầy che rạp trước cửa nhà mình, giữa rạp thầy cho kê một cái ghế dài, vây quanh ghế ấy thầy cho sắp sẵn tám hoặc mười sáu chỗ ngồi, rồi cho thỉnh các Thinh Văn của Ta ngồi lên đó tụng kinh Pāritta liên tục bảy ngày đêm. Nếu thầy làm được như vậy thì sự tai họa đó có thể tiêu tan.
- Ngài Cồ Đàm à, việc che rạp và sắp xếp chỗ ngồi ở nhà tôi, tôi có thể làm được hết. Nhưng làm sao tôi có thể thỉnh được các vị Thinh Văn của Ngài?
- Thầy cứ về lo phần việc của thầy cho xong, Ta sẽ cho các Thinh Văn của Ta đến.
- Lành thay, thưa Ngài Cồ Đàm.
Thầy Bà la môn trở về lo châu tất mọi việc ở trước cửa nhà xong, trở lại bạch với Đức Bổn Sư. Ngài cho các Tỳ khưu đi với thầy đến ngồi lên các chỗ đã soạn sẵn, đứa con trai nhỏ cũng được nằm trên chiếc ghế dài.
Các Tỳ khưu tụng kinh Pāritta suốt cả bảy ngày đêm không gián đoạn. Đến ngày thứ bảy, Đức Bổn Sư đích thân ngự đến. Trong cổng cửa nhà ấy, Chư Thiên trong khắp cõi Ta bà thế giới vân tập đến đông đặc.
Lúc bấy giờ, có con Dạ xoa tên là Avaruddhaka sau mười hai năm hầu hạ, phục dịch Đức Thiên Vương Vessavana1, đã xin được Ngài ân tứ cho phép bắt đứa nhỏ nầy, kể từ hôm nay cho đến ngày thứ bảy, cho nên nó cũng đến đứng ở đó.
Đức Bổn Sư tuyên bố rằng:
- Nơi cổng nhà nầy, Chư Thiên nhiều oai lực câu hội đông đảo, Chư Thiên kém oai lực rút lui ra xa.
Các vị sau nầy không sao tìm được chỗ trống nên phải lui ra xa mười hai do tuần, con Dạ xoa Avaruddhaka cũng phải ra đứng tuốt ngoài ra.
Suốt đêm ấy, Đức Bổn Sư cũng tụng kinh Pāritta. Qua thời hạn bảy ngày, Avaruddhaka chưa bắt được đứa bé, đến ngày thứ tám khi mặt trời vừa mọc lên, người ta mang đứa bé đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Ngài phúc chúc cho nó được trường thọ. Cha đứa bé hỏi:
- Thưa Đức Cồ Đàm, đứa bé nầy sẽ được trường thọ được bao lâu?
- Sống được một trăm hai mươi năm, thầy Bà la môn ạ!
Do đó, cha mẹ đứa bé đặt tên con là Dīghāyu (Trường Thọ hay là Ích Thọ). Theo cổ lệ, nó được danh dự đi chơi nơi nào cũng có năm trăm cận sự nam theo bao vây chung quanh.
Một ngày nọ, Chư Tăng ngồi câu hội tại giảng đường, để khởi câu chuyện như vầy: 1. Tỳ Sa môn, còn gọi là Đa Văn (Kuvera) là Đại Thiên Vương trấn
Bắc Châu, cai quản bọn Dạ Xoa (Yakkha) T.K.P.M 2. Các Tăng lữ ở những nước Nam phương, mỗi khi thọ người lễ kính
thì đọc bài tụng này. Chữ Nho nói: Kính lão đắc thọ (TKPM).
- Nầy các đạo hữu, có thấy chăng? Nghe nói cậu bé Dīghāyu phải bị chết trong vòng bảy ngày. Thế mà bây giờ hóa ra lại sống thọ một trăm hai mươi tuổi, khi đi đâu cũng có năm trăm tùy chúng bao quanh. Chắc phải có lý do khiến chúng sanh ấy tăng tuổi thọ…
Đức Bổn Sư đến hỏi:
- Nầy các Tỳ khưu, hôm nay các thầy hội thảo chuyện chi đây?
- Bạch Ngài, chuyện nầy…
Nghe vậy, Đức Thế Tôn giải thích rằng:
- Nầy các Tỳ khưu, không phải toàn thể chúng sanh đều có thể tăng thêm tuổi thọ như thế đâu! Sở dĩ những chúng sanh nầy được như thế là nhờ đã kính lễ các vị có đức hạnh. Họ đã phát triển bốn lý do khiến cho giải thoát khỏi điều tai họa, nên mới được tăng tuổi thọ.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và tóm tắt kết luận bằng kệ ngôn:
“Abhivādanasīlissa,
Niccaṃ vuḍḍhāpacāyino;
Cattāro dhammā vaḍḍhanti,
Āyu vaṇṇo sukhaṃ balaṃ ti.”
“Hoan hỉ lễ bái, kính nhường,
Các bậc Trưởng lão thì thường gia tăng.
Bốn điều phước báo cội căn:
Sống lâu, đẹp đẽ, bình an, hùng cường”2
CHÚ GIẢI:
Abhivādanasīlissa: việc luôn luôn cung kính, lễ bái tỏ vẻ tôn trọng.
Vuḍḍhāpacāyino: người tại gia đối với bậc đã xuất gia, dầu là các Sa di trẻ tuổi và là người xuất gia đối với bậc thọ Cụ túc giới, hoặc lớn tuổi hạ, đạo cao đức cả hơn mình, mà có tâm cung kỉnh đảnh lễ, hoặc thường xuyên cúng dường.
Cattāro dhammā: tăng tuổi thọ, là khi tới tuổi thọ mãn thì được gia tăng, triển hạn. Mấy Pháp kia cũng tăng thêm như vậy. Quả nhiên, như người nào đến năm mươi tuổi thọ mới mãn số, nhưng trọn đời làm việc thiện thì dầu ở tuổi hai mươi lăm có gặp đại nạn gì xảy đến, người ấy cũng giải trừ được nhờ kính lễ bậc trưởng thượng. Do đó, người ấy không bị giảm thọ, chết yểu.
Cuối thời Pháp, cậu bé Dīghāyu cùng với năm trăm Cận sự nam đều đắc quả Tu Đà Hườn, nhiều người khác cũng chứng đạt quả vị Dự Lưu.
Bảy ngày nghỉ phép đã trôi qua,
Lỡ dịp báo thù khiến Dạ xoa,
Phải chịu rút lui, nên cậu bé,
Được thêm tuổi thọ, phước toàn gia.
Phật dạy: Không riêng tuổi thọ tăng,
An vui, sắc đẹp, với quyền năng,
Đồng thời thêm mãi nơi người biết,
Lễ bái cúng dường bậc lão Tăng.
DỨT TÍCH CẬU BÉ ÍCH THỌ
Āyuvaḍḍhanakumāravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Abhivādanasīlissāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā dīghalaṅghikaṃ nissāya araññakuṭiyaṃ viharanto dīghāyukumāraṃ ārabbha kathesi.
Dīghalaṅghikanagaravāsino kira dve brāhmaṇā bāhirakapabbajjaṃ pabbajitvā aṭṭhacattālīsa vassāni tapacaraṇaṃ kariṃsu. Tesu eko “paveṇi me nassissati, vibbhamissāmī”ti cintetvā attanā kataṃ tapaṃ paresaṃ vikkiṇitvā gosatena ceva kahāpaṇasatena ca saddhiṃ bhariyaṃ labhitvā kuṭumbaṃ saṇṭhapesi. Athassa bhariyā puttaṃ vijāyi. Itaro panassa sahāyako pavāsaṃ gantvā punadeva taṃ nagaraṃ paccāgami. So tassa āgatabhāvaṃ sutvā puttadāraṃ ādāya sahāyakassa dassanatthāya agamāsi. Gantvā puttaṃ mātu hatthe datvā sayaṃ tāva vandi, mātāpi puttaṃ pitu hatthe datvā vandi. So “dīghāyukā hothā”ti āha, putte pana vandāpite tuṇhī ahosi. Atha naṃ “kasmā, bhante, amhehi vandite ‘dīghāyukā hothā’ti vatvā imassa vandanakāle kiñci na vadethā”ti āha. “Imasseko antarāyo atthi, brāhmaṇā”ti. “Kittakaṃ jīvissati, bhante”ti? “Sattāhaṃ, brāhmaṇā”ti. “Paṭibāhanakāraṇaṃ atthi, bhante”ti? “Nāhaṃ paṭibāhanakāraṇaṃ jānāmī”ti. “Ko pana jāneyya, bhante”ti? “Samaṇo gotamo jāneyya, tassa santikaṃ gantvā pucchāhī”ti. “Tattha gacchanto tapaparihānito bhāyāmī”ti. “Sace te puttasineho atthi, tapaparihāniṃ acintetvā tassa santikaṃ gantvā pucchāhī”ti.
So satthu santikaṃ gantvā sayaṃ tāva vandi. Satthā “dīghāyuko hohī”ti āha, pajāpatiyā vandanakālepi tassā tatheva vatvā puttassa vandāpanakāle tuṇhī ahosi. So purimanayeneva satthāraṃ pucchi, satthāpi tatheva byākāsi. So kira brāhmaṇo sabbaññutaññāṇaṃ apaṭivijjhitvāva attano mantaṃ sabbaññutaññāṇena saṃsandesi, paṭibāhanūpāyaṃ pana na jānāti. Brāhmaṇo satthāraṃ pucchi – “atthi pana, bhante, paṭibāhanūpāyo”ti? “Bhaveyya, brāhmaṇā”ti. “Kiṃ bhaveyyā”ti? “Sace tvaṃ attano gehadvāre maṇḍapaṃ kāretvā tassa majjhe pīṭhikaṃ kāretvā taṃ parikkhipanto aṭṭha vā soḷasa vā āsanāni paññāpetvā tesu mama sāvake nisīdāpetvā sattāhaṃ nirantaraṃ parittaṃ kātuṃ sakkuṇeyyāsi, evamassa antarāyo nasseyyā”ti. “Bho gotama, mayā maṇḍapādīni sakkā kātuṃ, tumhākaṃ pana sāvake kathaṃ lacchāmī”ti? “Tayā ettake kate ahaṃ mama sāvake pahiṇissāmī”ti. “Sādhu, bho gotamā”ti so attano gehadvāre sabbaṃ kiccaṃ niṭṭhāpetvā satthu santikaṃ agamāsi. Satthā bhikkhū pahiṇi, te gantvā tattha nisīdiṃsu, dārakampi pīṭhikāyaṃ nipajjāpesuṃ, bhikkhū sattarattindivaṃ nirantaraṃ parittaṃ bhaṇiṃsu, sattame divase sāyaṃ satthā āgacchi. Tasmiṃ āgate sabbacakkavāḷadevatā sannipatiṃsu. Eko pana avaruddhako nāma yakkho dvādasa saṃvaccharāni vessavaṇaṃ upaṭṭhahitvā tassa santikā varaṃ labhanto “ito sattame divase imaṃ dārakaṃ gaṇheyyāsī”ti labhi. Tasmā sopi āgantvā aṭṭhāsi.
Satthari pana tattha gate mahesakkhāsu devatāsu sannipatitāsu appesakkhā devatā osakkitvā osakkitvā okāsaṃ alabhamānā dvādasa yojanāni paṭikkamiṃsu. Avaruddhakopi tatheva paṭikkami, satthāpi sabbarattiṃ parittamakāsi. Sattāhe vītivatte avaruddhako dārakaṃ na labhi. Aṭṭhame pana divase aruṇe uggatamatte dārakaṃ ānetvā satthāraṃ vandāpesuṃ. Satthā “dīghāyuko hohī”ti āha. “Kīvaciraṃ pana, bho gotama, dārako ṭhassatī”ti? “Vīsavassasataṃ, brāhmaṇā”ti. Athassa “āyuvaḍḍhanakumāro”ti nāmaṃ kariṃsu. So vuddhimanvāya pañcahi upāsakasatehi parivuto vicari. Athekadivasaṃ dhammasabhāyaṃ bhikkhū kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “passathāvuso, āyuvaḍḍhanakumārena kira sattame divase maritabbaṃ abhavissa, so idāni vīsavassasataṭṭhāyī hutvā pañcahi upāsakasatehi parivuto vicarati, atthi maññe imesaṃ sattānaṃ āyuvaḍḍhanakāraṇa”nti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “bhikkhave, na kevalaṃ āyuvaḍḍhanameva, ime pana sattā guṇavante vandantā abhivādentā catūhi kāraṇehi vaḍḍhanti, parissayato muccanti, yāvatāyukameva tiṭṭhantī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Abhivādanasīlissa, niccaṃ vuḍḍhāpacāyino;
Cattāro dhammā vaḍḍhanti, āyu vaṇṇo sukhaṃ bala”nti.
Tattha abhivādanasīlissāti vandanasīlissa, abhiṇhaṃ vandanakiccapasutassāti attho. Vuḍḍhāpacāyinoti gihissa vā tadahupabbajite daharasāmaṇerepi, pabbajitassa vā pana pabbajjāya vā upasampadāya vā vuḍḍhatare guṇavuḍḍhe apacāyamānassa, abhivādanena vā niccaṃ pūjentassāti attho. Cattāro dhammā vaḍḍhantīti āyumhi vaḍḍhamāne yattakaṃ kālaṃ taṃ vaḍḍhati, tattakaṃ itarepi vaḍḍhantiyeva. Yena hi paññāsavassaāyusaṃvattanikaṃ kusalaṃ kataṃ, pañcavīsativassakāle cassa jīvitantarāyo uppajjeyya, so abhivādanasīlatāya paṭippassambhati, so yāvatāyukameva tiṭṭhati, vaṇṇādayopissa āyunāva saddhiṃ vaḍḍhanti. Ito uttaripi eseva nayo. Anantarāyena pavattassāyuno vaḍḍhanaṃ nāma natthi.
Desanāvasāne āyuvaḍḍhanakumāro pañcahi upāsakasatehi saddhiṃ sotāpattiphale patiṭṭhahi, aññepi bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Āyuvaḍḍhanakumāravatthu aṭṭhamaṃ.
VIII. 8. The Lad whose Years Increased
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
109. If a man have the habit of reverence, if he alway respect the aged,
Four things increase for him: age, beauty, happiness, power.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Araññakuṭikā near Dīghalambika with reference to the youth Dīghāyu.
The story goes that two Brahmans, residents of the city of Dīghalambika, retired from the world, became members of an heretical order, and for forty-eight years performed religious austerities. Finally one of them thought, “My line will perish; I will therefore return to the world.” Accordingly he sold to others the merit of the austerities he had performed, and with a hundred cattle and a hundred pieces of money procured him a wife and set up a household. After a time his wife gave birth to a son.
Now the other monk, his former companion, after visiting foreign parts, returned once more to that city. Hearing that he had returned, the layman took son and wife and went to see him. When he met him, he placed his son in the arms of the mother, and himself saluted the monk. Then the mother placed the child in the arms of the father and saluted the monk. “Live long!” said the monk to them. But when the son was made to salute him, he held his peace.
Said the father, “Reverend Sir, why was it that when we saluted you, you said, ‘Live long!’ but when this boy saluted you, you said not a word?” “Some disaster awaits this boy, Brahman.” “How long will he live, Reverend Sir?” “For seven days, Brahman.” “Is there any way of averting this, Reverend Sir?” “I know of no way of averting this.” “But who might know, Reverend Sir?” “The monk Gotama; go to him and ask him.” “Were I to go there, I should be afraid because of having abandoned my austerities.” “If you love your son, think not of having abandoned your austerities, but go to him and ask him.”
The Brahman went to the Teacher, and himself straightway saluted him. “Live long!” said the Teacher. When the boy’s mother saluted him, he said the same. But when they made the boy salute him, he held his peace. Then the Brahman asked the Teacher the same question he had previously asked the monk, and the Teacher made the same prediction. We are told that this Brahman, not having attained omniscience, united his own wisdom with omniscience, but for all that discovered no way of averting his son’s fate. The Brahman asked the Teacher, “Reverend Sir, is there no way of averting this?” “There might be, Brahman.” “What way might there be, Reverend Sir?”
“If you erect a pavilion before the door of your house, and set a chair in the center of it, and arrange eight or sixteen seats in a circle about it, and cause my disciples to sit therein; and if you then cause texts to be recited for the purpose of securing protection and averting evil consequences for the space of seven days uninterruptedly, in that case the danger that threatens him might be averted.” “Sir Gotama, it is a perfectly easy matter to erect a pavilion and do all the rest, but how am I to obtain the services of your disciples?” “If you will do all this, I will send my disciples.” “Very well, Sir Gotama.”
So the Brahman completed all of the preparations at the door of his house and then went to the Teacher. The Teacher sent the monks, and they went there and sat down, seating the boy also on a little bench. For seven nights and seven days without interruption, the monks recited the usual texts, and on the seventh day the Teacher came himself. When the Teacher came, the deities of all the worlds assembled. But a certain ogre named Avaruddhaka, who had served Vessavaṇa for twelve years and who had received the boon, “Seven days hence you shall receive this boy,” approached and stood waiting. But when the Teacher came there, and the powerful deities gathered themselves together, and the weak deities drew back, stepping back twelve leagues so as to make room, then Avaruddhaka stepped back also.
The Teacher recited the Protective Texts all night long, with the result that when the seven days had elapsed, Avaruddhaka failed to get the boy. Indeed, when the dawn of the eighth day rose, they brought the boy and caused him to make obeisance to the Teacher. Said the Teacher, “Live long!” “Sir Gotama, how long will the boy live?” “For a hundred and twenty years, Brahman.” So they gave him the name of Lad-whose-years-increased, Āyuvaḍḍhana. When the youth grew up, he went about surrounded by five hundred lay disciples.
One day the monks began a discussion in the Hall of Truth: “Just think, brethren! The youth Āyuvaḍḍhana would have died on the seventh day, but now he is destined to live for a hundred and twenty years. There he goes, surrounded by five hundred lay disciples. There must therefore be some reason why the term of life of living beings here in the world increases.” The Teacher approached and asked them, “Monks, what are you sitting here now talking about?” When they told him, he said, “Monks, it is not a matter of years alone. Living beings here in the world who respect and reverence the virtuous, increase in four matters, obtain release from danger, and abide in safety unto the end of their days.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,
109. If a man have the habit of reverence, if he alway respect the aged,
Four things increase for him: age, beauty, happiness, power.
- Text: N ii. 235-239.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.