Chú giải Pháp Cú · Kệ 116 · Dhp 116

Tích Bà La Môn Một Áo

Cūḷekasāṭakabrāhmaṇavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 116 Kinh Pháp Cú, phẩm Ác, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 116)

“Abhittharetha kalyāṇe,
Pāpā cittaṃ nivāraye;
Dandhaṃ hi karoto puññaṃ,
Pāpasmiṃ ramatī mano.”

“Hãy gấp làm điều lành,
Ngăn tâm làm điều ác,
Ai chậm làm việc lành,
Ý ưa thích việc ác.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến ông Bà la môn Cūḷekasāṭaka (Bà la môn Một Áo) (Tiểu Trung Y).

Trong thời kỳ Giáo Pháp của Đấng Thập Lực hồng danh là Vipassī (Tỳ Bà Thi), có ông Bà la môn tên là Mahāekasāṭaka (Đại Nhất Trung Y).

Còn bây giờ, ông nầy ở trong thành Xá Vệ, có tên là Tiểu Trung Y (Cūḷekasāṭaka), ông chỉ có một cái y hạ (củn, cái váy, cái chăn, để vận theo lối Ấn Độ không có mặc quần) và vợ ông cũng chỉ có một cái y hạ mà thôi. Hai người thay nhau xài chung một cái y trung để đắp lên mình khi 1

Lá y choàng nhỏ. Ra khỏi nhà.

Một hôm nghe có loa kêu gọi đi chùa thính pháp, ông Bà la môn bảo vợ rằng: “Nầy bà có loa kêu gọi đi thính pháp, vậy bà sẽ đi nghe pháp ban ngày hay ban đêm? Vì chỉ có một cái y choàng nên chúng ta không thể cùng đi một lượt được.”.

Bà Bà la môn đáp: “Tôi sẽ đi ban ngày ông à.”.

Nói rồi bà khoác y lên mình ra đi. Ông Bà la môn ở nhà cả ngày, tới tối mới ra đi, đến ngồi trước mặt Đức Bổn Sư nghe pháp. Ông thỏa thích đến nỗi phỉ lạc ngũ sắc (xanh, vàng, trắng, đỏ, cam) phát khởi lên thấm đều khắp châu thân ông, ông có ý muốn cúng dường Đức Bổn Sư nhưng lại nghĩ rằng: “Nếu ta đem dâng lá y nầy thì cả bà Bà la môn và ta đều không có y choàng.”. Sau hàng ngàn tâm bỏn xẻn sanh lên, các Tâm Chánh tín lại phát khởi để rồi biến đi hết, để cho tâm bỏn xẻn phát sanh. Ông Bà la môn bị sự bỏn xẻn buộc chặt như kềm hãm ông, nên ông phủ nhận Tín tâm của ông.

Trận giặc lòng kéo dài suốt một canh đầu: “Ta sẽ dâng, ta sẽ không dâng.”, ông cứ phân vân giữa hai ý tưởng như thế.

Từ đó đến hết canh giữa, cuộc nội chiến vẫn tiếp diễn, nên ông ta không thể cúng dường lá y. Đến canh chót, ông ta suy nghĩ thầm: “Tín tâm và Lận tâm (tâm hà tiện) của ta đã chiến đấu với nhau suốt hai canh qua, mà Tín tâm vẫn không thể thắng. Bây giờ, bằng ấy tâm bỏn xẻn đang tăng trưởng, nó sẽ không cho ta cất đầu lên khi sa xuống bốn đường ác đạo. Ta sẽ dâng lá y choàng.”.

Khi đã xóa được hàng ngàn Lận tâm và để cho Tín tâm làm hướng đạo. Ông Bà la môn đem lá y choàng đặt trước chân Đức Bổn Sư và hô to lên ba lần: “Ta đã thắng, ta đã thắng!”.

Đức Vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) đang thính pháp, nghe tiếng hô như vậy, bèn phán hỏi: “Nầy ông Bà la môn, ông nói thắng là thắng ai vậy?”. Các quan hộ giá đến hỏi ông Bà la môn thì ông ta đem hết tâm sự của mình ra tỏ bày thật cho các quan biết, nhờ các quan tâu lại với đức Vua. Đức Vua nghe chuyện nầy, tự nghĩ: “Ông Bà la môn này đã làm chuyện khó làm, Trẫm sẽ tiếp độ ông ta.”. Đức Vua sai quân hầu tặng ông ta cặp y choàng, ông Bà la môn đem dâng luôn đến Đức Bổn Sư.

Thấy vậy, đức Vua sai quân hầu đem tặng ông tấm vải choàng, ông cũng dâng lên Đức Thế Tôn, rồi đức Vua lại tăng lên gấp đôi, ông cũng dâng tám cặp y, rồi đến mười sáu cặp y. Khi đức Vua ban cho ông ta ba mươi hai cặp y, lần này ông Bà la môn suy nghĩ: “Cứ mỗi lần được y, ta không giữ mà xả ra, rồi lại được nhiều hơn. Như vậy, sợ e người bảo rằng ta bỏ con tép bắt con tôm. Thôi, ta hãy giữ lại hai cặp y, ta một cặp còn vợ ta một cặp”. Rồi ông Bà la môn lãnh hai cặp, còn lại ba mươi cặp y ta sẽ dâng đến Đức Thế Tôn.

Hồi đời xưa, ông Đại Nhất Trung Y được sáu mươi bốn cặp y mà ông chỉ nhận có hai cặp. Đời này, Tiểu Trung Y được ba mươi hai cặp và cũng chỉ nhận có hai cặp1 mà thôi.

Đức Vua bèn ra lịnh sai các quan hầu: “Nầy các hiền khanh! Việc làm của ông Bà la môn nầy thật là khó làm, các khanh hãy trở về hoàng cung cho người mang hai lá cẩm y (áo gấm) của trẫm đến đây!”. Các quan làm theo lịnh của đức Vua. Đức Vua sai đem tặng ông Bà la môn hai tấm y gấm trị giá cả trăm ngàn đồng vàng. 1) Vì ông Mahāekasāṭaka có trước và số y lãnh được nhiều gấp đôi nên được mệnh danh là Đại Nhất Trung Y. Còn ông này có sau và số y lãnh cũng ít hơn, nên được gọi là Tiểu Trung Y, không phải là y lớn hay y nhỏ.

Ông Bà la môn tự nghĩ: “Những y nầy không thích ý với thân hình ta, mà thích ứng với Giáo Pháp của Đức Phật.”, ông bèn đem một lá y gấm vào trong hương thất treo lên giường nằm của Đức Bổn Sư, còn một lá đem về nhà treo trên chỗ Chư Tăng thường xuyên thọ thực.

Chiều hôm sau, đức Vua đến viếng Đức Bổn Sư nhìn biết lá cẩm y, bèn hỏi:

- Bạch Ngài, ai dâng y nầy vậy?

- Ông Một Áo.

Nghe vậy, đức Vua rất hoan hỷ với ông Bà la môn, bèn ra lịnh ban cho ông bốn con voi, bốn con ngựa, bốn ngàn đồng vàng, bốn phụ nữ, bốn tỳ nữ, bốn tớ trai, bốn làng nộp thuế… Cả trăm thứ, thứ gì cũng là bốn hết thảy.

Các Tỳ khưu đề khởi vấn đề này trong giảng đường: “Ôi! Thật là kỳ lạ. Việc làm của Tiểu Trung Y trong giây lát như vậy mà kết quả được ân tứ đủ thứ, thứ gì cũng bốn cái. Rõ ràng là do thiện nghiệp gieo trồng vào phước điền mà quả dị thục trổ ngay hôm nay vậy.”. Đức Bổn Sư đến hỏi:

- Nầy các Tỳ khưu, hôm nay các thầy ngồi đây thảo luận việc chi vậy?

- Bạch Ngài, việc nầy…

Nghe vậy, Đức Bổn Sư dạy:

- Nầy các Tỳ khưu, nếu ông Tiểu Trung Y nầy đã có thể cúng dường đến Ta trong canh đầu thì ông đã được tất cả mọi thứ, mỗi thứ là mười sáu cái. Nếu ông đã có thể cúng dường đến Ta vào canh giữa thì ông đã có tất cả mọi thứ, thứ nào cũng tám cái. Vì ông trì hoãn để đến canh chót mới cúng dường, cho nên tất cả mọi thứ, thứ nào cũng bốn cái như vậy. Bởi thế, trong việc tạo thiện nghiệp, hễ tâm khởi lên muốn làm lúc nào, nên làm ngay lúc ấy đừng trì hoãn. Làm lành mà chậm trễ thì quả phước phát sanh cũng chậm trễ. Do đó, khi tâm vừa phát sanh muốn tạo thiện nghiệp thì phải nên làm ngay lập tức, đừng hẹn lại.

Nói rồi, Đức Thế Tôn thuyết pháp và ngâm kệ rằng:

“Abhittharetha kalyāṇe,
Pāpā cittaṃ nivāraye;
Dandhaṃ hi karoto puññaṃ,
Pāpasmiṃ ramatī mano.”
Hãy gấp làm việc lành, chế chỉ tâm tội ác.
Hễ biếng nhác làm việc lành giờ phút nào
Thì tâm ưa chuyện ác giờ phút ấy.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Abhittharetha: hãy cấp tốc làm theo, gấp rút thật mau lẹ làm điều lành. Quả thật đối với người cư sĩ tại gia, khi tâm khởi lên: “Ta sẽ làm điều lành, chẳng hạn như rút thẻ để bát”, thì họ nên hối hả dành lấy thẻ trước, kẻo hết thẻ thì không còn dịp nào khác được để bát. Còn bậc xuất gia hoặc người có phận sự phải làm như phục vụ thầy Tế độ chẳng hạn, sợ không xin được dịp nào khác nên cũng gấp rút giành phần trước về mình.

Pāpā cittaṃ: tất cả các việc ác từ thân, ngữ, ý nhất là thân ác hạnh, khi tâm bất thiện khởi lên, muốn tạo nghiệp ác do cửa nào thì phải ngăn chặn ngay tại cửa ấy tất cả.

Dandhaṃ hi karoto: người nào cứ đắn đo “Ta sẽ bố thí, ta sẽ làm phước, nhưng không biết ta có thành tựu hay không”, rồi trì hoãn việc làm phước, giống như con người đi trên con đường lầy lội, giống như ông Một Áo đã để cho hàng ngàn tâm bỏn xẻn có dịp khởi lên, lúc ấy, tâm người vui thích trong việc ác. Trái lại, trong khi làm việc lành thì tâm vui thích trong việc lành, nhờ đó mà khỏi sa đọa xuống trong cảnh ác quấy.

Cuối thời Pháp, nhiều người chứng quả Thánh, nhất là Tu Đà Hườn quả.

Canh đầu, canh giữa, đến canh ba,
Mới cởi áo choàng cúng Phật Đà.
Thỏa thích la to: “Ta đã thắng!”
Làm Vua đẹp ý, thưởng ông ta.
Nhờ đó, kẻ nghèo bỗng hóa giàu,
Chư Tăng bèn nói: “Thật là mau!”
Nhưng theo Phật dạy thì hơi chậm,
Chỉ hưởng những phần phước nhỏ sau.
Phật khuyên nên gấp rút làm lành,
Chớ để bơ thờ, ác ý sanh,
Cứ một ý lành, ngàn ý ác,
Khó lòng toàn thắng được cho nhanh!

DỨT TÍCH BÀ LA MÔN MỘT ÁO

Cūḷekasāṭakabrāhmaṇavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Abhittharetha kalyāṇeti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto cūḷekasāṭakabrāhmaṇaṃ ārabbha kathesi.

Vipassidasabalassa kālasmiñhi mahāekasāṭakabrāhmaṇo nāma ahosi, ayaṃ pana etarahi sāvatthiyaṃ cūḷekasāṭako nāma. Tassa hi eko nivāsanasāṭako ahosi, brāhmaṇiyāpi eko. Ubhinnampi ekameva pārupanaṃ, bahi gamanakāle brāhmaṇo vā brāhmaṇī vā taṃ pārupati. Athekadivasaṃ vihāre dhammassavane ghosite brāhmaṇo āha – “bhoti dhammassavanaṃ ghositaṃ, kiṃ divā dhammassavanaṃ gamissasi, udāhu rattiṃ. Pārupanassa hi abhāvena na sakkā amhehi ekato gantu”nti. Brāhmaṇī, “sāmi, ahaṃ divā gamissāmī”ti sāṭakaṃ pārupitvā agamāsi. Brāhmaṇo divasabhāgaṃ gehe vītināmetvā rattiṃ gantvā satthu purato nisinnova dhammaṃ assosi. Athassa sarīraṃ pharamānā pañcavaṇṇā pīti uppajji. So satthāraṃ pūjitukāmo hutvā “sace imaṃ sāṭakaṃ dassāmi, neva brāhmaṇiyā, na mayhaṃ pārupanaṃ bhavissatī”ti cintesi. Athassa maccheracittānaṃ sahassaṃ uppajji, punekaṃ saddhācittaṃ uppajji. Taṃ abhibhavitvā puna maccherasahassaṃ uppajji. Itissa balavamaccheraṃ bandhitvā gaṇhantaṃ viya saddhācittaṃ paṭibāhatiyeva. Tassa “dassāmi, na dassāmī”ti cintentasseva paṭhamayāmo apagato, majjhimayāmo sampatto. Tasmimpi dātuṃ nāsakkhi. Pacchimayāme sampatte so cintesi – “mama saddhācittena maccheracittena ca saddhiṃ yujjhantasseva dve yāmā vītivattā, idaṃ mama ettakaṃ maccheracittaṃ vaḍḍhamānaṃ catūhi apāyehi sīsaṃ ukkhipituṃ na dassati, dassāmi na”nti. So maccherasahassaṃ abhibhavitvā saddhācittaṃ purecārikaṃ katvā sāṭakaṃ ādāya satthu pādamūle ṭhapetvā “jitaṃ me, jitaṃ me”ti tikkhattuṃ mahāsaddamakāsi.

Rājā pasenadi kosalo dhammaṃ suṇanto taṃ saddaṃ sutvā “pucchatha naṃ, kiṃ kira tena jita”nti āha. So rājapurisehi pucchito tamatthaṃ ārocesi. Taṃ sutvā rājā “dukkaraṃ kataṃ brāhmaṇena, saṅgahamassa karissāmī”ti ekaṃ sāṭakayugaṃ dāpesi. So tampi tathāgatasseva adāsi. Puna rājā dve cattāri aṭṭha soḷasāti dviguṇaṃ katvā dāpesi. So tānipi tathāgatasseva adāsi. Athassa rājā dvattiṃsa yugāni dāpesi. Brāhmaṇo “attano aggahetvā laddhaṃ laddhaṃ vissajjesiyevā”ti vādamocanatthaṃ tato ekaṃ yugaṃ attano, ekaṃ brāhmaṇiyāti dve yugāni gahetvā tiṃsa yugāni tathāgatasseva adāsi. Rājā pana tasmiṃ sattakkhattumpi dadante puna dātukāmoyeva ahosi. Pubbe mahāekasāṭako catusaṭṭhiyā sāṭakayugesu dve aggahesi, ayaṃ pana dvattiṃsāya laddhakāle dve aggahesi. Rājā purise āṇāpesi – “dukkaraṃ bhaṇe brāhmaṇena kataṃ, antepure mama dve kambalāni āharāpeyyāthā”ti. Te tathā kariṃsu. Rājā satasahassagghanake dve kambale dāpesi. Brāhmaṇo “na ime mama sarīre upayogaṃ arahanti, buddhasāsanasseva ete anucchavikā”ti ekaṃ kambalaṃ antogandhakuṭiyaṃ satthu sayanassa upari vitānaṃ katvā bandhi, ekaṃ attano ghare nibaddhaṃ bhuñjantassa bhikkhuno bhattakiccaṭṭhāne vitānaṃ katvā bandhi. Rājā sāyanhasamaye satthu santikaṃ gantvā taṃ kambalaṃ sañjānitvā, “bhante, kena pūjā katā”ti pucchitvā “ekasāṭakenā”ti vutte “brāhmaṇo mama pasādaṭṭhāneyeva pasīdatī”ti vatvā “cattāro hatthī cattāro asse cattāri kahāpaṇasahassāni catasso itthiyo catasso dāsiyo cattāro purise caturo gāmavare”ti evaṃ yāva sabbasatā cattāri cattāri katvā sabbacatukkaṃ nāma assa dāpesi.

Bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “aho acchariyaṃ cūḷekasāṭakassa kammaṃ, taṃmuhuttameva sabbacatukkaṃ labhi, idāni katena kalyāṇakammena ajjameva vipāko dinno”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “bhikkhave, sacāyaṃ ekasāṭako paṭhamayāme mayhaṃ dātuṃ asakkhissa, sabbasoḷasakaṃ alabhissa. Sace majjhimayāme asakkhissa, sabbaṭṭhakaṃ alabhissa. Balavapacchimayāme dinnattā panesa sabbacatukkaṃ labhi. Kalyāṇakammaṃ karontena hi uppannaṃ cittaṃ ahāpetvā taṅkhaṇaññeva kātabbaṃ. Dandhaṃ kataṃ kusalañhi sampattiṃ dadamānaṃ dandhameva dadāti, tasmā cittuppādasamanantarameva kalyāṇakammaṃ kātabba”nti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Abhittharetha kalyāṇe, pāpā cittaṃ nivāraye;
Dandhañhi karoto puññaṃ, pāpasmiṃ ramatī mano”ti.

Tattha abhittharethāti turitaturitaṃ sīghasīghaṃ kareyyāti attho. Gihinā vā hi “salākabhattadānādīsu kiñcideva kusalaṃ karissāmī”ti citte uppanne yathā aññe okāsaṃ na labhanti, evaṃ “ahaṃ pure, ahaṃ pure”ti turitaturitameva kātabbaṃ. Pabbajitena vā upajjhāyavattādīni karontena aññassa okāsaṃ adatvā “ahaṃ pure, ahaṃ pure”ti turitaturitameva kātabbaṃ. Pāpā cittanti kāyaduccaritādipāpakammato vā akusalacittuppādato vā sabbathāmena cittaṃ nivāraye. Dandhañhi karototi yo pana “dassāmi, na dassāmi sampajjissati nu kho me, no”ti evaṃ cikkhallamaggena gacchanto viya dandhaṃ puññaṃ karoti, tassa ekasāṭakassa viya maccherasahassaṃ pāpaṃ okāsaṃ labhati. Athassa pāpasmiṃ ramatī mano, kusalakammakaraṇakāleyeva hi cittaṃ kusale ramati, tato muccitvā pāpaninnameva hotīti.

Gāthāpariyosāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Cūḷekasāṭakabrāhmaṇavatthu paṭhamaṃ.

IX. 1. The Brahman with a Single Robe

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

116. Let a man make haste to do good; let him restrain his heart from evil;
For if a man is slow in doing good, his mind delights in evil.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Brahman Little One-Robe, Culla Ekasāṭaka.

For in the dispensation of the Buddha Vipassī lived a Brahman named Mahā Ekasāṭaka, and he it was who was reborn in the present dispensation in Sāvatthi as One-Robe, Culla Ekasāṭaka. For Culla Ekasāṭaka possessed but a single undergarment, and his wife possessed but a single undergarment, and both of them together possessed but a single upper garment. The result was that, whenever either the Brahman or his wife went out of doors, the other had to stay at home. One day announcement was made that there would be preaching at the monastery. Said the Brahman to his wife, “Wife, announcement is made that there will be preaching at the monastery. Will you go to hear the Law by day or by night? For we have not enough upper garments between us to permit both of us to go together.” The Brahman’s wife replied, “Husband, I will go in the daytime.” So saying, she put on the upper garment and went.

The Brahman spent the day at home. At night he went to the monastery, seated himself in front of the Teacher, and listened to the Law. As he listened to the Law, the five sorts of joy arose within him, suffusing his body. He greatly desired to do honor to the Teacher, but the following thought restrained him, “If I give this garment to the Teacher, there will be no upper garment left for my wife or me.” A thousand selfish thoughts arose within him; then a single believing thought arose within him. Then thought of self arose within him and overmastered the believing thought. Even so did the mighty thought of self seize, as it were, and bind and thrust out the believing thought. “I will give it! No, I will not give it!” said the Brahman to himself. As he thus reflected, the first watch passed and the second watch arrived. Even then he was not able to bring himself to give the garment to the Teacher. Then the last watch came. Finally the Brahman thought to himself, “While I have been fighting with thoughts of faith and thoughts of self, two watches have elapsed. If these powerful thoughts of self increase, they will not permit me to lift up my head from the Four States of Suffering. I will therefore give my gift.” Thus the Brahman finally overmastered a thousand thoughts of self and followed the lead of a thought of faith. Taking his garment, he laid it at the Teacher’s feet and thrice cried out with a loud voice, “I have conquered! I have conquered!”

King Pasenadi Kosala happened to be listening to the Law. When he heard that cry, he said, “Ask him what he has conquered.” The king’s men asked the Brahman the question, and the Brahman explained the matter to them. When the king heard the explanation, he said, “It was a hard thing to do what the Brahman did. I will do him a kindness.” So he caused a pair of garments to be presented to him. The Brahman presented these garments also to the Tathāgata. Then the king doubled his gift, presenting the Brahman first with two pairs of garments, then with four, then with eight, finally with sixteen. The Brahman presented all these garments also to the Tathāgata. Then the king directed thirty-two pairs of garments to be presented to the Brahman. But to avoid having it said, “The Brahman has kept not a single pair for himself, but has given away every pair he received,” he said to the Brahman, “Keep one pair for yourself and give another pair to your wife.” So saying, he caused the Brahman to keep two pairs and gave the remaining thirty pairs to the Tathāgata alone. Even had the Brahman given away what he possessed a hundred times, the king would have met his gifts with equal gifts. (In a former state of existence Mahā Ekasāṭaka kept for himself two pairs of garments out of sixty-four he received; Culla Ekasāṭaka kept two out of thirty-two.)

The king gave orders to his men, “It was indeed a hard thing to do what the Brahman did. Fetch my two blankets into the presence-chamber.” They did so. The king presented him with the two blankets, valued at a thousand pieces of money. But the Brahman said to himself, “I am not worthy to cover my body with these blankets. These are suitable only for the Religion of the Buddha.” Accordingly he made a canopy of one of the blankets and hung it up in the Perfumed Chamber over the Teacher’s bed; likewise he made a canopy of the other blanket and hung it up in his own house over the spot where the monk who resorted to his house for alms took his meals. At eventide the king went to visit the Teacher. Recognizing the blanket, he asked him, “Reverend Sir, who was it that honored you with the gift of this blanket?” “Ekasāṭaka.” Thought the king to himself, “Even as I believe and rejoice in my belief, even so does this Brahman believe and rejoice in his belief.” Accordingly he presented to him four elephants, four horses, four thousand pieces of money, four women, four female slaves, and four most excellent villages. Thus therefore did the king cause the Brahman to be given the Gift of Fours.

The monks started a discussion in the Hall of Truth: “Oh how wonderful was the deed of Culla Ekasāṭaka! No sooner done than he received all manner of presents of four! As soon as he did a good deed, straightway the fruit thereof was given to him.” The Teacher approached and asked the monks, “Monks, what are you sitting here now talking about?” When they told him, he said, “Monks, had Ekasāṭaka been able to bring himself to give me his gift in the first watch, he would have received the Gift of Sixteens; had he been able to do so in the middle watch, he would have received the Gift of Eights; because it was not until late in the last watch that he gave me his gift, he received only the Gift of Fours. He who does good works should not put away the impulse to good that arises within him, but should act on the instant. A meritorious deed tardily done brings its reward, but tardy is the reward it brings. Therefore a man should perform a good work the instant the impulse to good arises within him.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,

116. Let a man make haste to do good; let him restrain his heart from evil;
For if a man is slow in doing good, his mind delights in evil.

  1. This story is referred to at Milindapañha, 11512. Parallel in Aṅguttara Commentary (citation at HOS. 28. p. 51). Text: N iii. 1-5.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.