Tích Tỳ Khưu Ni Đa Tử Đắc A La Hán
Bahuputtikattherīvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 115 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngàn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 115)
“Yo ca vassasataṃ jīve,
Apassaṃ dhammamuttamaṃ;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Passato dhammamuttamanti.”
“Ai sống một trăm năm,
Không thấy Pháp tối thượng,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được Pháp tối thượng”.
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến vị Tỳ khưu Ni tên Bahuputtikā (Đa Tử).
Tương truyền rằng: Trong một gia đình nọ ở thành Xá Vệ, có bảy đứa con trai và bảy đứa con gái, đến tuổi trưởng thành tất cả đều yên bề gia thất. Tuy đã ra riêng nhưng cũng sống hạnh phúc, bình thường. Một thời gian sau, cha chúng qua đời, bà Đại Tín nữ nghĩ rằng: “Dầu chồng ta đã mất, ta cũng không phân chia gia sản cho các con trai và con gái ta đâu.”.
Nhưng các con trai bà cứ theo hỏi bà:
- Thưa mẹ, cha chúng con đã mất, mẹ còn giữ gia sản cho ai nữa? Bộ chúng con không bảo quản được gia sản hay sao?
Nghe con hỏi, bà vẫn làm thinh. Nhưng chúng cứ đeo theo hỏi đi hỏi lại mãi. Sau cùng bà tự nghĩ: “Các con trai sẽ phụng dưỡng ta, ta còn giữ gìn gia sản làm của riêng mà làm chi?”.
Thế rồi, bà cho hội các con lại và phân chia tất cả di sản của chồng cho chúng.
Cách mấy ngày sau, người vợ của con trai lớn nói với bà rằng: “Trời ơi! Sao mẹ cứ đến nhà con hoài? Mẹ làm như nhà con là trưởng nam được hưởng hai phần gia tài vậy?”.
Những cô dâu khác cũng đều nói y như con dâu lớn cả. Buồn chán lũ con trai, bà đến ở nhà các con gái, bắt đầu từ nhà đứa lớn, các con gái bà cũng xô đuổi bà với luận điệu như các con dâu.
Bị các dâu con ruồng rẫy, bà Tín nữ tự nghĩ: “Ta còn gần lũ nầy làm chi nữa, thà là ta xuất gia Tỳ khưu Ni, sống hạnh không nhà còn hơn”. Thế rồi, bà đến tịnh xá Ni xin xuất gia, chư Tỳ khưu Ni đã cho bà xuất gia. Sau khi xuất gia, bà được mệnh danh là Tỳ khưu Ni Đa Tử.
Tự xét rằng: “Ta là người lão niên xuất gia, ta phải Tinh tấn siêng năng mới được.”. Bà ráng làm hết phận sự của bậc Tỳ khưu Ni, rồi còn tính: “Ta sẽ hành Sa môn Pháp suốt đêm nay.”, nên lấy tay ôm một cây cột ở từng dưới của tòa lầu, rồi hành Sa môn Pháp xoay quanh cây cột ấy. Trong lúc đi kinh hành ở chỗ tối tăm, bà không thấy đường, quơ tay kiếm cây đại thọ, không ngờ va đầu vào cây, rồi lấy tay ôm cây ấy đi vòng quanh mà hành Sa môn Pháp. Bà lại tính thầm: “Ta sẽ hành trì đúng theo Pháp mà Đức thế Tôn đã thuyết.”, rồi bà tham Thiền, quán tưởng về Pháp, ráng nhớ lại Pháp vừa hành Sa môn Pháp ấy.
Khi ấy, Đức Bổn Sư ngự tọa trong hương thất phóng tỏa hào quang, thị hiện như đang ngồi trước mặt mà đàm thoại với bà: “Nầy Đa Tử! Pháp của Ta thuyết, người nào không tham cứu, không nhìn thấy thì dầu sống một trăm năm, cũng không bằng người thấy Pháp của Ta thuyết chỉ sống trong một giây lát.”.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và kết luận tóm tắt rằng:
“Yo ca vassasataṃ jīve,
Apassaṃ dhammamuttamaṃ;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Passato dhammamuttamanti.”
“Sống trăm tuổi thọ lão thành,
Không thấy Tối thượng Vô sanh pháp mầu,
Chẳng bằng sống một ngày lâu,
Thấy Pháp Tối thượng nhiệm mầu Vô sanh.”
CHÚ GIẢI:
Dhammamuttamaṃ: pháp tối thượng gồm có
chín
Pháp Thánh, gọi là Siêu Thế Pháp
(Lokuttaradhamma), là bốn Đạo, bốn Quả và Níp Bàn. Tên Pāli gọi là Uttama dhammo: người không thấy Pháp nầy, dầu sống một trăm năm, so với người thấy Pháp, thông hiểu Pháp nầy, chỉ sống trong một ngày, hoặc trong một sát na, thì người sau nầy vẫn hơn.
Cuối bài kệ, Tỳ khưu Ni Đa Tử đắc quả A La Hán với Tuệ Phân tích.
Bất nghĩa, con dâu bỏ mẹ già,
Buồn lòng, góa phụ phải ly gia,
Ban ngày, phận sự lo tròn đủ,
Tối đến, hành thâm Pháp Phật Đà…
Phật dạy: Dầu con sống một ngày,
Thấy rồi Siêu pháp cũng còn hay,
Hơn người sống đến trăm năm chẵn,
Mà vẫn chưa thông Diệu Đế này!
DỨT TÍCH TỲ KHƯU NI ĐA TỬ ĐẮC A LA HÁN
Bahuputtikattherīvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yo ca vassasataṃ jīveti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto bahuputtikaṃ theriṃ ārabbha kathesi.
Sāvatthiyaṃ kirekasmiṃ kule satta puttā satta ca dhītaro ahesuṃ. Te sabbepi vayappattā gehe patiṭṭhahitvā attano dhammatāya sukhappattā ahesuṃ. Tesaṃ aparena samayena pitā kālamakāsi. Mahāupāsikā sāmike naṭṭhepi na tāva kuṭumbaṃ vibhajati. Atha naṃ puttā āhaṃsu – “amma, amhākaṃ pitari naṭṭhe tuyhaṃ ko attho kuṭumbena, kiṃ mayaṃ taṃ upaṭṭhātuṃ na sakkomā”ti. Sā tesaṃ kathaṃ sutvā tuṇhī hutvā punappunaṃ tehi vuccamānā “puttā maṃ paṭijaggissanti, kiṃ me visuṃ kuṭumbenā”ti sabbaṃ sāpateyyaṃ majjhe bhinditvā adāsi. Atha naṃ katipāhaccayena jeṭṭhaputtassa bhariyā “aho amhākaṃ, ayyā, ‘jeṭṭhaputto me’ti dve koṭṭhāse datvā viya imameva gehaṃ āgacchatī”ti āha. Sesaputtānaṃ bhariyāpi evameva vadiṃsu. Jeṭṭhadhītaraṃ ādiṃ katvā tāsaṃ gehaṃ gatakālepi naṃ evameva vadiṃsu. Sā avamānappattā hutvā “kiṃ imesaṃ santike vuṭṭhena, bhikkhunī hutvā jīvissāmī”ti bhikkhunīupassayaṃ gantvā pabbajjaṃ yāci. Tā naṃ pabbājesuṃ. Sā laddhūpasampadā hutvā bahuputtikattherīti paññāyi. Sā “ahaṃ mahallakakāle pabbajitā, appamattāya me bhavitabba”nti bhikkhunīnaṃ vattapaṭivattaṃ karontī “sabbarattiṃ samaṇadhammaṃ karissāmī”ti heṭṭhāpāsāde ekaṃ thambhaṃ hatthena gahetvā taṃ āviñchamānāva samaṇadhammaṃ karoti, caṅkamamānāpi “andhakāraṭṭhāne me rukkhe vā katthaci vā sīsaṃ paṭihaññeyyā”ti taṃ rukkhaṃ hatthena gahetvā taṃ āviñchamānāva samaṇadhammaṃ karoti, “satthārā desitadhammameva karissāmī”ti dhammaṃ āvajjetvā dhammaṃ anussaramānāva samaṇadhammaṃ karoti. Atha satthā gandhakuṭiyaṃ nisinnova obhāsaṃ pharitvā sammukhe nisinno viya tāya saddhiṃ kathento “bahuputtike mayā desitaṃ dhammaṃ anāvajjentassa apassantassa vassasataṃ jīvanato mayā desitaṃ dhammaṃ passantassa muhuttampi jīvitaṃ seyyo”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Yo ca vassasataṃ jīve, apassaṃ dhammamuttamaṃ;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, passato dhammamuttama”nti.
Tattha dhammamuttamanti navavidhaṃ lokuttaradhammaṃ. So hi uttamo dhammo nāma. Yo hi taṃ na passati, tassa vassasatampi jīvanato taṃ dhammaṃ passantassa paṭivijjhantassa ekāhampi ekakkhaṇampi jīvitaṃ seyyoti.
Gāthāpariyosāne bahuputtikattherī saha paṭisambhidāhi arahatte patiṭṭhahīti.
Bahuputtikattherīvatthu cuddasamaṃ.
Sahassavaggavaṇṇanā niṭṭhitā.
Aṭṭhamo vaggo.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa
Khuddakanikāye
Dhammapada-aṭṭhakathā
(Dutiyo bhāgo)
VIII. 14. The Widow Bahuputtikā and her Ungrateful Children
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
Though one should live a hundred years...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Bahuputtikā.
In a certain household at Sāvatthi, we are told, were seven sons and seven daughters. All of them married as soon as they were old enough, and were happy, as was indeed their nature. After a time their father died. But the mother, the eminent female lay disciple, even after the death of her husband, did not for some time relinquish control of his property. One day her sons said to her, “Mother, now that our father is dead, what is the use of your retaining his property? Can we not support you?” She listened to their words, but said nothing. After they had spoken to her several times about the matter, she thought to herself, “My sons will look after me; why need I keep the property separate for myself?” So she divided the estate into two parts and distributed them among the children.
After a few days had passed, the wife of her oldest son said to her, “Apparently this is the only house our excellent mother visits; she acts as though she had given both parts of her estate to her oldest son.” In like manner did the wives of her other sons address her. So likewise did her daughters address her whenever she entered their houses, from the oldest to the youngest. With such disrespect was she treated that finally she said to herself, “Why should I live with them any longer? I will enter the Order and live the life of a nun.” So she went to the nuns’ convent and asked to be admitted to the Order. They received her into the Order, and when she had made her full profession she went by the name of Bahuputtikā the nun.
“Since I have entered the Order in old age,” thought she, as she performed the major and minor duties assigned to nuns, “it behooves me to be heedful; I will therefore spend the whole night in meditation.” On the lower terrace, putting her hand on a pillar, she guided her steps thereby and meditated. Even as she walked along, fearful that in the dark places she might strike her head against a tree or against some other object, she put her hand on a tree and guided her steps thereby, and meditated. Resolved to observe only the Law taught by the Teacher, she considered the Law and pondered the Law and meditated.
The Teacher, seated in the Perfumed Chamber, sent forth a radiant image of himself, and sitting as it were face to face with her, talked with her, saying, “Bahuputtikā, though one should live a hundred years, did he not behold the Law I have taught and meditate thereon, it were better that he live but a moment and behold the Law I have taught.” And joining the connection and teaching the Law, he pronounced the following Stanza,
115. Though one should live a hundred years, did he not behold the Law Supreme,
It were better that he live but a single day and behold the Law Supreme.
At the conclusion of the Stanza, Bahuputtikā became an Arahat, possessed of the Supernatural Faculties.
- Cf. Story xxiii. 3. Text: N ii. 276-278.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.