Tích Trưởng Lão Xây Dá Xá Ká
Seyyasakattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 117 Kinh Pháp Cú, phẩm Ác, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 117)
“Pāpañce puriso kayirā,
Na naṃ kayirā punappunaṃ;
Na tamhi chandaṃ kayirātha,
Dukkho pāpassa uccayo.”
“Nếu người làm điều ác,
Chớ tiếp tục làm thêm,
Chớ ước muốn điều ác,
Chứa ác, tất chịu khổ.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Seyyasaka (Xây Dá Xá Ká).
Trong Tạng Luật quyển hai có ghi: Tỳ khưu Seyyasaka là đệ tử sống chung với thầy là Trưởng lão Loḷuḍāyi (Lô Lưu Đà Di). Khi đệ tử có tâm buồn bực không vui (vì không chiến thắng nổi tình dục) và đã thú thật tâm trạng của mình với thầy, ông thầy lại xúi dục đệ tử thủ dâm (giới Tăng Tàn số một): “Mỗi khi tâm buồn bực nổi lên thì trò hãy làm như tôi vậy!”.
Được Chư Tăng báo cáo việc này, Đức Bổn Sư cho gọi Tỳ khưu Seyyasaka đến hỏi:
- Nghe nói thầy đã làm như thế có không?
- Bạch Ngài, có!
Nghe vậy, Đức Bổn Sư quở:
- Nầy kẻ ngu, tại sao ngươi tạo nghiệp nặng nề,
không thích đáng như vậy?...
Sau khi trách cứ vị Tỳ khưu phạm lỗi bằng nhiều lối nói…, Đức Bổn Sư đã ban hành học giới Tăng Tàn thứ nhất, rồi kết luận: “Quả thật nghiệp quấy như vậy, dầu trong hiện kiếp, hay kiếp vị lai, cũng đều dắt người vào vòng luân hồi Khổ não.”.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và kết luận bằng bài kệ rằng:
“Pāpañce puriso kayirā,
Na naṃ kayirā punappunaṃ;
Na tamhi chandaṃ kayirātha,
Dukkho pāpassa uccayo.”
Nếu đã lỡ làm ác,
Chớ nên thường làm hoài,
Chớ vui làm việc ác,
Hễ chứa ác, nhất định thọ khổ
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Ý nghĩa của Kệ ngôn nầy là:
Nếu người mới làm ác một lần đầu mà biết suy xét ngay rằng: “Việc nầy không đẹp, thô bạo lắm!”, rồi quyết định không tái phạm thì lần sau dục vọng có nổi lên người ấy cũng dẹp bỏ, không làm việc quấy ấy nữa. Vì sao? Vì sự chất chứa tích trữ làm cho ác càng ngày càng tăng trưởng khiến cho con người thọ khổ trong hiện kiếp và đưa người vào khổ cảnh trong kiếp vị lai.
Cuối thời Pháp, nhiều người chứng đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn.
Lửa dục hừng lên, khó nén cầm,
Nhà sư cố gắng tự dằn tâm,
Nhưng nghe thầy dạy dùng phương tiện,
Nên bắt chước thầy phạm Thủ dâm.
Chư Tăng vào mách Phật việc nầy,
Phật gọi Tỳ khưu đến quở rầy,
Rồi bắt ghi liền trong Giới Bổn,
Tăng Tàn số một kể từ đây.
Phật nhắc: Không nên lập lại hoài,
Mọi điều quấy ác hoặc đơn sai.
Sợ e phải bị luân hồi khổ,
Giờ phút lâm chung, khó trở tay.
DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO SEYYASAKA
Seyyasakattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Pāpañca purisoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto seyyasakattheraṃ ārabbha kathesi.
So hi lāḷudāyittherassa saddhivihāriko, attano anabhiratiṃ tassa ārocetvā tena paṭhamasaṅghādisesakamme samādapito uppannuppannāya anabhiratiyā taṃ kammamakāsi (pārā. 234). Satthā tassa kiriyaṃ sutvā taṃ pakkosāpetvā “evaṃ kira tvaṃ karosī”ti pucchitvā “āma, bhante”ti vutte “kasmā bhāriyaṃ kammaṃ akāsi, ananucchavikaṃ moghapurisā”ti nānappakārato garahitvā sikkhāpadaṃ paññāpetvā “evarūpañhi kammaṃ diṭṭhadhammepi samparāyepi dukkhasaṃvattanikameva hotī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Pāpañce puriso kayirā, na naṃ kayirā punappunaṃ;
Na tamhi chandaṃ kayirātha, dukkho pāpassa uccayo”ti.
Tassattho – sace puriso sakiṃ pāpakammaṃ kareyya, taṅkhaṇeyeva paccavekkhitvā “idaṃ appatirūpaṃ oḷārika”nti na naṃ kayirā punappunaṃ. Yopi tamhi chando vā ruci vā uppajjeyya, tampi vinodetvā na kayirātheva. Kiṃ kāraṇā? Dukkho pāpassa uccayo. Pāpassa hi uccayo vuḍḍhi idhalokepi samparāyepi dukkhameva āvahatīti.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Seyyasakattheravatthu dutiyaṃ.
IX. 2. A Discontented Monk
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
117. Should a man commit sin...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Seyyasaka.
For Elder Seyyasaka was Elder Lāḷudāyi’s fellow-monk. Becoming discontented with the continence required by the Religious Life, he told his companion, who put him up to violating the first Saṅghadisesa Rule. Thereafter, as often as he fell into that sin of discontent, he broke that same Rule. The Teacher heard about his doings, sent for him, and asked him, “Is the report true that you do thus and so?” “Yes, Reverend Sir.” “Fond man,” said the Teacher, “why have you sinned so grievously, in a manner so unbecoming to your state?” In such fashion did the Teacher reprove him. Having so done, he enjoined upon him the observance of the Precepts. Then he said to him, “Such a course of action inevitably leads to suffering, both in this world and in the world to come.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,
117. Should a man commit sin, he should not repeat his sin again and again;
He should not seek after evil; suffering is the outcome of evil.
- This story is derived from the Vinaya, Saṁghādisesa, i. 1: iii. 110-112. Text: N iii. 5-6.
- Explained at SBE. xiii. 7; xx. 77.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.